phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn bao gồm 3 Chương: - C ương 1: Cơ sở khoa học quản n nước về di tích l ch s - v n hóa. - C ương 2: ực trạng quản n nước về di tích l ch s - v n óa tr n đ a bàn huyện n ia, tỉnh Thanh Hóa. - C ương 3: P ương ướng và giải p p t ng cường quản n nước về di tích l ch s - v n óa tr n đ a bàn huyện n ia, tỉnh Thanh Hóa. 7 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Di sản văn hóa Việt Nam - Di sản v n óa Việt Nam Là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản ph m tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Việt Nam. - Di sản v n óa vật thể Là sản ph m vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. - Di sản văn hóa phi vật thể Là các sản ph m tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác.
Di tích lịch sử - văn hóa Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đụng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra. Di tích lịch sử - văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá khứ, di tích là những gì còn lại so với thời gian, những thông tin trực tiếp từ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và sử liệu từ các di vật có trong di tích góp phần nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam. Chúng ta có thể nhận biết kiến trúc của các di tích lịch sử - văn hóa trải qua các thời đại thông qua các dấu tích, di vật còn sót 8 Luan van lại. Ví dụ, chúng ta có thể biết được kiến trúc các ngôi đình làng đa dạng ở khu vực đồng bằng sông Hồng thay đổi qua các thời kỳ, dựa vào dấu tích còn lại của kiến trúc đình làng người ta có thể suy ra niên đại của các ngôi đình, chẳng hạn như những ngôi đình có niên đại trước sớm hơn thường có ván sàn đình những ngôi đình có niên đại sau muộn hơn thường không có ván sàn đình.
Di vật được bảo lưu ở các di tích, là nguồn sử liệu trực tiếp mang lại nhiều thông tin thú vị cho các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau như tôn giáo, địa lý, lịch sử, thông qua di vật ở di tích như quả chuông được đúc năm nào hay nội dung văn bia có thể suy ra niên đại khởi dựng hoặc trùng tu lại ngôi chùa, xem qua tượng thờ, nghệ thuật chạm khắc thông tin cho chúng ta biết được sự xuất hiện của tín ngưỡng dân gian khác nhau qua các thời kỳ. Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, là nguồn sử liệu trực tiếp cho ta những thông tin quan trọng để khôi phục những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Thuộc di sản văn hóa vật thể, là sản ph m vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử- văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di tích là dấu tích, công trình xây dựng, là bằng chứng của sự tiến hóa hay biến cố về lịch sử, có ý nghĩa về văn hóa; di tích là cổ vật bất động sản, là di sản văn hóa vật thể.
Di tích lịch sử - văn hóa nói chung do nhân dân tạo ra, là kết quả của hoạt động sáng tạo văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc. Tiềm n trong mỗi di tích lịch sử - văn hóa quốc gia có những giá trị cao, cả về mặt văn hóa và về mặt kinh tế, những yếu tố hấp dẫn rất lớn không thể thiếu để góp phần vào việc giữ gìn bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam. 9 Luan van Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau: - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương. - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử.
- ịa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu. - Công tình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật. Di tích lịch sử - văn hóa là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: - Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc. - Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam.
- ịa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ. - Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, và hệ sinh thái dặc thù. Di tích lịch sử - văn hóa được phân loại như sau: - Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia - Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh 10 Luan van - Di tích lịch sử văn hóa cấp huyện - Di tích lịch sử văn hóa cấp xã 1. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa - “Quản lý” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ “sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của các chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức) đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người, để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra của tổ chức và đúng ý chí của nhà quản lý, với chi phí thấp nhất.
Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể quản lý vào khách thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức, quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp. - “Quản lý nhà nước” là thuật ngữ chỉ sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Trình độ xã hội hóa càng cao thì yêu cầu quản lý và vai trò của quản lý ngày càng tăng lên. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. 11 Luan van Quản lý nhà nước về văn hóa là thông qua những giải pháp về pháp luật, thể chế, chính sách, kế hoạch… của nhà nước để quản lý các giá trị vật chất và tinh thần, quản lý những hoạt động văn hóa theo đúng đường lối chủ trương của ảng đồng thời đảm bảo quyền tự do dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hóa, xác lập vai trò, vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc. Quản n nước về di tích l ch s - v n óa sự t c động có đ nh ướng tr n cơ sở quyền n p p c a ệ t ống cơ quan n c n n nước tới n vi, oạt động c a c n n o c t c c trong n vực v n óa n c ti u bảo vệ, giữ gìn di sản, các di tích l ch s - v n óa v c o giá tr các di sản, di tích l ch s - v n óa được phát huy theo chiều ướng tích cực p c v p t triển in t – ội, đ p ng n u c u về vật c ất v tin t n c a n n n.
Sự cần thiết phải quản lý nhà nƣớc về di tích lịch sử - văn hóa 1. Xuất phát từ vai trò, giá trị của di tích lịch sử - văn hóa Nước Việt Nam trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những trang sử hào hùng của dân tộc được ghi lại qua nhiều loại hình sử liệu khác nhau: di tích - di vật, hình ảnh, chữ viết, ngôn ngữ truyền miệng. Trong số những nguồn sử liệu ấy thì di tích lịch sử - văn hóa đóng vai trò như một nguồn sử liệu vật chất quan trọng nhất.