đặt vấn đề rằng sự can thiệp của chính phủ cần phải hạn chế đến tối đa. Các nhà lý thuyết thƣơng mại tân cổ điển hàng đầu của kinh tế phát triển nhƣ Krueger và Bhagwati đã nhấn mạnh đến vai trò của thƣơng mại quốc tế trong thay thế cầu trong nƣớc còn thấp ở các nƣớc đang phát triển. Họ cho rằng điều cốt yếu nhất chính phủ cần làm để nền kinh tế tự vận hành trên con đƣờng tăng trƣởng bền vững là loại bỏ các rào cản đối với thƣơng mại quốc tế. Theo trƣờng phái “thƣơng mại là đủ”, tăng trƣởng kinh tế do xuất khẩu dẫn dắt sẽ là kết cục tất yếu.
Lợi thế so sánh, kết hợp định lý Hecksher - Ohlin sau đó sẽ đảm nhiệm nốt phần còn lại. Chính phủ cũng nên loại bỏ các méo mó giá cả trên thị trƣờng hàng hóa và thị trƣờng nhân tố sản xuất trong nƣớc để thúc đẩy các nhân tố sản xuất chuyển dịch hợp lý, khuyến khích việc ứng dụng công nghệ phù hợp và tăng tích lũy tƣ bản. - Thời kỳ củng cố vai trò của chính phủ từ năm 1996 đến nay Từ năm 1996 đến nay đã có các nghiên cứu đánh giá lại vai trò tối ƣu của chính phủ trong phát triển kinh tế. Thứ nhất, các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách cùng nhận ra rằng, kết quả tăng trƣởng của các nƣớc đang phát triển trong những năm 1980, khi thực hiện các đề xuất hạn chế tối đa vai trò của chính phủ, là khá kém cỏi.
Thứ hai, mặc dù tăng trƣởng yếu kém diễn ra ở hầu hết các nƣớc đang phát triển, ở khu vực Đông Á và một số nƣớc Nam Á nơi mà chính phủ đóng vai trò tích cực đã có thành tích tăng trƣởng rất ấn tƣợng. Thứ ba, ở các nƣớc thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng có xu hƣớng phản đối triết lý tân tự do của thập kỷ 1980 mà kết quả là tăng trƣởng thấp và thất nghiệp cao, chuyển sang tăng cƣờng vai trò của chính phủ. Tuy nhiên, giờ đây trung tâm của tranh luận không ở chỗ tối thiểu hóa vai trò của chính phủ mà tập trung vào việc làm thế nào để chính phủ can thiệp hiệu quả hơn, hình thành nên trƣờng phái “Hậu đồng thuận Washington”. Trƣờng phái này ủng hộ việc linh hoạt phối hợp tƣơng tác giữa nhà nƣớc và thị trƣờng.
Theo đó, các chính phủ phát triển đóng vai trò quan trọng trong đầu tƣ, ngân sách, hình thành vốn nhân lực, đầu tƣ vào công nghệ, thiết lập thể chế, và thúc đẩy cải cách chính 24 Luan van sách và thể chế. Trƣờng phái này cũng nghiên cứu để tìm ra các cách thức tăng cƣờng năng lực của chính phủ trong hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển trên cơ sở có một đội ngũ công chức trung thực và có năng lực. Tổng kết quan điểm của các trƣờng phái kinh tế về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế các nƣớc đang phát triển ở trên đã cho thấy rõ cả mặt ƣu điểm và hạn chế khi chính phủ can thiệp vào nền kinh tế. Mặc dù vậy, cần nhấn mạnh rằng, sự tiến hóa của các lý thuyết cũng đã khẳng định việc chính phủ cần tham gia vào phát triển kinh tế là điều tất yếu nhƣng câu hỏi còn bỏ ngỏ là: Làm thế nào để các can thiệp của chính phủ là đúng đắn và hiệu quả? Vì đầu tƣ công là một trong những công cụ quan trọng nhất của chính phủ, câu hỏi tƣơng tự với đầu tƣ công là: Làm thế nào để đầu tƣ công vào đúng chỗ (đúng lĩnh vực), đem lại hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế? * Phạm vi đầu tư công hợp lý Nhƣ trên đã nêu, câu hỏi quan trọng là phạm vi đầu tƣ công nhƣ thế nào là hợp lý? Liệu có những tiêu chí về mặt kinh tế có thể giúp xác định hoạt động đầu tƣ nào đó nên thực hiện bởi nhà nƣớc hay tƣ nhân? Câu hỏi này đã đƣợc nêu ra từ nhiều thế kỷ trƣớc.
Adam Smith, cha đẻ của kinh tế học cổ điển, ở thế kỷ XVIII đã đƣa ra danh sách lĩnh vực đầu tƣ công trong các lĩnh vực sau: (1) Quốc phòng; (2) Thể chế và (3) Một số loại công trình phúc lợi [15]. Ngày nay, nhìn chung có ba cách tiếp cận để trả lời câu hỏi này. Cách tiếp cận thứ nhất cho phép chính phủ thực hiện đầu tƣ công chỉ khi khu vực tƣ nhân không thể đảm nhận đƣợc công việc đó. Đây có thể xem là cách tiếp cận của các nhà kinh tế thị trƣờng tự do cực đoan.
Ở khía cạnh ngƣợc lại là cách tiếp cận trong đó nhà nƣớc đảm nhiệm hầu nhƣ mọi hoạt động trong nền kinh tế (còn đƣợc gọi là cách tiếp cận xã hội chủ nghĩa). Cách tiếp cận dung hòa hơn cho phép chính phủ có vai trò năng động hơn so với các tiếp cận thứ nhất nhƣng không quá ôm đồm nhƣ cách tiếp cận thứ ba [22]. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu của Adelman và Morris xem xét vai trò của chính phủ nói chung và đầu tƣ công nói riêng của các nƣớc trên thế giới theo ba nhóm nƣớc - phụ thuộc vào trình độ phát triển - bao gồm: nhóm nƣớc kém phát triển, nhóm nƣớc đang phát triển và nhóm nƣớc phát triển [16]. 25 Luan van - Nhóm nƣớc kém phát triển: Đƣợc đặc trƣng bởi mức độ phát triển thể chế thị trƣờng và tổ chức xã hội ở mức tối thiểu và kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo.
Kết quả phân tích cho thấy, ở nhóm nƣớc kém phát triển nhất, nhiệm vụ quan trọng nhất của chính phủ là tích lũy vốn xã hội. Chính phủ cần có chính sách và đầu tƣ vào phát triển con ngƣời để gia tăng quy mô tầng lớp trung lƣu gồm các chuyên gia, doanh nhân và bộ máy công chức; loại bỏ các cản trở về mặt xã hội và giáo dục đối với việc gia nhập các nghề nghiệp trung lƣu. Lĩnh vực đầu tƣ quan trọng thứ hai là đầu tƣ vào kết cấu hạ tầng phần cứng, chủ yếu là hệ thống giao thông và năng lƣợng. Lĩnh vực thƣ ba là đầu tƣ xây dựng thể chế, cả kinh tế và chính trị.
- Nhóm nƣớc đang phát triển: Nhóm nƣớc này đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, đƣợc đặc trƣng bởi tốc độ chuyển giao xã hội nhanh và mất cân bằng, vì thế có nhiều nguy cơ mất ổn định xã hội và chính trị. Đối với các nƣớc này, kết quả phân tích cho thấy chính phủ nên tập trung đầu tƣ để tạo nền tảng thể chế, môi trƣờng chính sách và kết cấu hạ tầng cần thiết (tập trung vào hạ tầng vận tải và năng lƣợng) để đẩy mạnh công nghiệp hóa. Chính phủ nên tăng nhanh tỷ lệ đầu tƣ của quốc gia cả thông qua đầu tƣ trực tiếp của chính phủ và trợ cấp, thúc đẩy đầu tƣ tƣ nhân. Cần có chính sách đầu tƣ đủ mạnh để khuyến khích tƣ nhân phát triển các ngành hiện đại, bao gồm cả các hỗ trợ đầu tƣ trong nông nghiệp để gia tăng năng suất lao động khu vực nông nghiệp, tạo điều kiện đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành.
Cần có chính sách để thay thế nhập khẩu lao động kỹ năng và vốn bằng cách khuyến khích doanh nghiệp trong nƣớc đầu tƣ sản xuất và chính phủ cần tiếp tục đi tiên phong trong đầu tƣ vào giáo dục. - Nhóm nƣớc phát triển: Các nƣớc này có trình độ kinh tế - xã hội phát triển (tầng lớp trung lƣu đông đảo, tỷ lệ biết chữ cao, tỷ lệ học sinh cấp hai và ba trong độ tuổi cao, thông tin đại chúng phát triển v. Nhóm này gồm 6 nƣớc phát triển nhất ở Mỹ La tinh và 6 nƣớc phát triển nhất ở Trung Đông và 3 nền kinh tế Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Trong nhóm này, nhân tố quyết định tạo ra sự khác biệt về mặt kinh tế và thành công phát triển là cam kết của giới lãnh đạo đất nƣớc với phát triển kinh tế, nhân tố này quyết định tới 77% sự khác biệt về tăng trƣởng kinh tế giữa các nƣớc đang phát triển nhất.
Khi các điều kiện về 26 Luan van xã hội, nhân lực và vốn cho phát triển đã tích lũy ở mức độ lớn, trong trƣờng hợp nhóm nƣớc này, kết quả phân tích cho thấy sự dẫn dắt của chính phủ đối với phát triển cơ bản tập trung vào thúc đẩy công nghiệp hóa trên cơ sở tạo ra và phát huy lợi thế so sánh để liên tục chuyển dịch lên các nấc cao hơn trong chuỗi giá trị trong khi tiếp tục tăng năng suất nông nghiệp. Nhƣ vậy, đầu tƣ công tập trung vào thực hiện các giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành có năng lực cạnh tranh (xuất khẩu) và phát triển một khu vực kinh tế tƣ nhân năng động đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Đồng thời, để hỗ trợ cho công nghiệp hóa, thực hiện đƣợc mục tiêu tăng năng suất nông nghiệp, đầu tƣ công cũng tập trung vào nâng cấp kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp và hỗ trợ phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp. Tuy nhiên, đến cuối giai đoạn công nghiệp hóa, vai trò thích hợp của chính phủ sẽ nên thay đổi theo hƣớng của Đồng thuận Washington.
Ngay cả các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ hay cộng đồng chung châu Âu, đầu tƣ công của chính phủ nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành vẫn đang tiếp tục diễn ra. Ví dụ, chính quyền của Tổng thống Bill Clinton đã đầu tƣ rất nhiều vào phát triển các ngành công nghệ cao cũng nhƣ đầu tƣ phát triển nhân lực làm việc trong các ngành công nghệ cao. b) Về mặt thống kê Có sự khác biệt khá lớn giữa khái niệm đầu tƣ phát triển của chính phủ trong kinh tế học và đầu tƣ công của chính phủ về mặt thống kê và kế toán theo cả thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Những nội dung đƣợc thống kê trong chi đầu tƣ công theo thông lệ quốc tế cần xem xét giảm trừ để có thống kê đầu tƣ phát triển đúng nghĩa của kinh tế học bao gồm: chi đầu tƣ vào tài sản cố định (đang tồn tại) vì trong Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), đầu tƣ với tƣ cách là một bộ phận của GDP phải là đầu tƣ tạo ra tài sản mới; chi đầu tƣ tài sản chính;; chi chuyển giao (gồm chi bổ sung NSĐP và chi đầu tƣ cho DNNN) và chi trả nợ.
So sánh hình 1.