Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI THUỘC CÁC CƠ SỞ TÔN GIÁO 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Đất đai Đất đai là khái niệm chỉ phần lục địa không phải là biển của trái đất, tuy nhiên, mỗi vị trí trên trái đất đều gắn với tọa độ, độ sâu, khoáng sản trong lòng đất và khoảng không trên đất khác nhau nên cách nhận định về nội hàm khái niệm đất, nhất là dưới góc độ pháp lý là khác nhau. Các Mác cho rằng: “Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản của sản xuất vật chất” [17, tr.
Khái niệm đất đai với nội hàm được đánh giá đầy đủ nhất hiện nay được Hội nghị quốc tế về Môi trường tại Rio de Janero, Brazil (2003) đưa ra như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” [23, tr. Mỗi quốc gia phân loại đất đai theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo cách phân loại của Luật Đất đai 2013, đất đai được phân loại theo mục đích sử dụng gồm: (1) Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng năm (gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác); đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác (gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm, đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh); 14 (2) Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất: Đất ở (gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị); đất xây dựng trụ sở cơ quan; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất xây dựng công trình sự nghiệp (gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp, đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác); đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, đất thương mại, dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm); đất sử dụng mục đích công cộng (gồm đất giao thông, thủy lợi, đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác); đất CSTG, tín ngưỡng; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác (gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất, đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy múc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người SDĐ không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở); (3) Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng [28]. Cơ sở tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử, có tài liệu thống kê đến nay có hàng trăm khái niệm về tôn giáo, tùy cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu để người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về tôn giáo.
Mặc dù khái niệm tôn giáo chưa thống nhất, tuy nhiên có thể nhận diện một tôn giáo hoàn chỉnh với các dấu hiệu cơ bản bao gồm: Cộng đồng tôn giáo có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí; có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tổ chức hoạt động từ giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm 15 và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Thông qua việc thành lập các tổ chức tôn giáo để tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo [30].
Cơ sở tôn giáo, theo Luật Đất đai năm 2013, bao gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo [28]. Tại Luật Đất đai năm 2013 quy định CSTG là người SDĐ. Người SDĐ phải là tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động (hay còn gọi là hoạt động hợp pháp). Đất đai thuộc các cơ sở tôn giáo Đất CSTG gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.
Đất đai thuộc CSTG được phân loại là một trong 11 loại đất thuộc nhóm đất sử dụng ổn định lâu dài và một trong 10 loại đất thuộc nhóm đất phi nông nghiệp, không thu tiền SDĐ đối với đất CSTG SDĐ phi nông nghiệp [28]. Nguồn gốc hình thành đất đai thuộc CSTG bao gồm: Thông qua việc Nhà nước giao quyền sử dụng đất (Nhà nước giao đất); Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; thông qua kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai; quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân; quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án. Kế thừa điểm chung của các định nghĩa nêu trên, có thể định nghĩa về đất đai thuộc CSTG là một phần trong tổng diện tích đất tự nhiên, được sử dụng vào mục đích tôn giáo bao gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động. CQĐP căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết định diện tích đất giao cho CSTG.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI THUỘC CÁC CƠ SỞ TÔN GIÁO 1. Khái niệm về quản lý nhà nước về đất đai thuộc các cơ sở tôn giáo 1. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước thông qua việc các cơ quan trong bộ máy nhà nước sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển KT-XH của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Đặc điểm của QLNN khác với các tổ chức phi nhà nước là mang tính quyền lực cưỡng bức, thông qua hành động quản lý của cơ quan nhà nước cơ bản được luật hóa; trong nền kinh tế thị trường nhà nước có quyền thu thuế không theo nguyên tắc trao đổi hàng hóa để có nguồn tài chính phục vụ hoạt động của nhà nước; QLNN được thực hiện bằng bộ máy với ba chức năng chính là lập pháp, hành pháp và tư pháp, được phân cấp thành chính quyền Trung ương và địa phương. Quản lý nhà nước về đất đai thuộc các cơ sở tôn giáo Quản lý nhà nước về đất đai: Quản lý nhà nước về đất đai là một phân hệ của QLNN. Thông qua việc các cơ quan trong bộ máy nhà nước sử dụng pháp luật nhà nước điều chỉnh hành vi hoạt động của con người liên quan đến đất đai nhằm bảo vệ nguyên vẹn lãnh thổ, khuyến khích SDĐ có hiệu quả và bảo hộ quyền người sở hữu đất. QLNN về đất đai bao gồm hai lĩnh vực chính: (1) QLĐĐ với tư cách lãnh thổ, tài nguyên quốc gia.
Vai trò chính phủ là phải phân định được đường biên giới với nước láng giềng, vẽ bản đồ lãnh thổ, quy hoạch không gian lãnh thổ, xây dựng các kế hoạch sử dụng, cải tạo đất khi cần thiết, thu thập, lưu giữ thông tin về đất…; (2) Đề ra các nguyên tắc, quy định các thủ tục hành chính liên quan đến sở hữu, sử dụng, cải tạo, giao dịch đất đai nhằm duy trì sự ổn định của các quan hệ đất đai, khuyến khích SDĐ hiệu quả và phát triển thị trường bất động sản một cách lành mạnh. Quản lý nhà nước về đất đai là tất yếu khách quan của tất cả các nước. Đất đai không chỉ là tài sản của chủ thể kinh tế nào đó mà còn mang vai trò lãnh thổ, thể 17 hiện chủ quyền quốc gia, là môi trường sống chung của cộng đồng dân cư. Ở Việt Nam, ngoài các hoạt động QLĐĐ như các quốc gia khác, Nhà nước Việt Nam còn thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân trong xử lý các quan hệ đất đai với các chủ thể SDĐ khác.
Theo Hiến pháp 2013 và Luật Đất đai 2013, Nhà nước Việt Nam có quyền hạn và có phạm vi can thiệp rộng đối với các quan hệ đất đai, bao gồm hai lĩnh vực là quản lý chung và quản lý các cơ quan đại diện cho sở hữu toàn dân. Điều này được cụ thể hóa trong phân cấp QLNN về đất đai trong bộ máy nhà nước.