Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của đào tạo liên thông trong giáo dục nghề nghiệp và đại học, đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2016

213
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP- GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC QUỐC GIA

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề đào tạo và quản lý đào tạo liên thông

1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước

1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Đào tạo liên thông

1.2.2. Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục đại học

1.2.3. Quản lý nhà nước về giáo dục

1.2.4. Quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.3. Cơ sở khoa học về đào tạo và quản lý đào tạo liên thông trong giáo dục29

1.3.1. Cơ sở Tâm lý học nghề nghiệp

1.3.2. Cơ sở Tâm lý học xã hội

1.3.3. Cơ sở Giáo dục học

1.3.4. Cơ sở Kinh tế học giáo dục

1.3.5. Cơ sở Khoa học quản lý

1.4. Đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học

1.4.1. Mục đích, ý nghĩa của đào tạo liên thông

1.4.2. Bản chất của đào tạo liên thông

1.4.3. Điều kiện đào tạo liên thông

1.4.4. Các loại hình đào tạo liên thông

1.5. Đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

1.5.1. Dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia đến năm 2020

1.5.2. Cơ cấu nhu cầu và cách thức đào tạo liên thông đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

1.5.3. Đào tạo liên thông dọc đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

1.5.4. Đào tạo liên thông ngang đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

1.5.5. Mối quan hệ giữa phân luồng với đào tạo liên thông đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

1.6. Nội dung quản lý nhà nƣớc về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.6.1. Hoạch định chính sách, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.6.2. Quản lý chương trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.6.3. Kiểm định chất lượng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.6.4. Tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.6.5. Quản lý huy động, sử dụng các nguồn lực phát triển đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.6.6. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật giáo dục trong đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

1.7. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

2. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠOLIÊN THÔNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC ĐẠI HỌCỞ VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

2.1. Đặc điểm cơ cấu giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

2.1.1. Cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp

2.1.2. Cơ cấu hệ thống giáo dục đại học

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.2.1. Mục đích khảo sát

2.2.2. Đối tượng kháo sát

2.2.3. Nội dung khảo sát

2.2.4. Phương pháp khảo sát

2.2.5. Địa điểm khảo sát

2.3. Thực trạng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam

2.3.1. Quá trình triển khai các loại hình đào tạo liên thông

2.3.2. Kết quả khảo sát thực trạng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam

2.4. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam

2.4.1. Về thể chế và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN

2.4.2. Về hoạch định chính sách, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

2.4.3. Về quản lý chương trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

2.4.4. Về quản lý chất lượng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

2.4.5. Về công tác tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà giáo, cán bộ quản lý đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

2.4.6. Về công tác huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

2.4.7. Về công tác thanh tra, kiểm tra và xứ lý vi phạm trong đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

2.5. Kinh nghiệm quốc tế về đào tạo và quản lý đào tạo liên thông

2.6. KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

3. CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠOLIÊN THÔNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC ĐẠI HỌCĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC QUỐC GIA

3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp

3.1.1. Đảm bảo tính mục tiêu

3.1.2. Đảm bảo tính kế thừa

3.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn

3.1.4. Đảm bảo tính hệ thống

3.1.5. Đảm bảo tính khả thi

3.2. Các giải pháp quản lý nhà nƣớc về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

3.2.1. Hoàn thiện khung chính sách quốc gia phát triển đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

3.2.2. Xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn các trình độ đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

3.2.3. Quản lý chương trình đào tạo liên thông giáo GDNN-GDĐH

3.2.4. Kiểm định chất lượng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

3.2.5. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo liên thông giáo GDNN-GDĐH

3.2.6. Quản lý huy động, sử dụng các nguồn lực phát triển đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

3.2.7. Hoàn thiện quy trình, hình thức giám sát, thanh tra đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

3.3. Khảo nghiệm và thử nghiệm các giải pháp

3.3.1. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp

3.3.2. Thử nghiệm giải pháp

3.4. KẾT LUẬN CHƢƠNG3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

3.3.1. Đối với Chỉnh phủ

3.3.2. Đối với Bộ giáo dục&Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh&Xãhội

3.3.3. Đối với các cơ sở đào tạo của hệ thống GDNN và GDĐH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG (GIAI ĐOẠN THÍ ĐIỂM)

CÁC MẪU PHIẾU HỎI VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG GDNN-GDĐH

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

3.3.1. PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG(GIAI ĐOẠN ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)

3.3.1.1. Danh sách các trường thí điểm đào tạo liên thôngtheo quyết định số 6680/QĐ-NGD&ĐT ngày 23 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
3.3.1.2. Danh sách các trườngđào tạo liên thôngtheo quyết định số 1196/QĐ-BGDĐT ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

3.3.2. PHỤ LỤC2: CÁC MẪU PHIẾU HỎI VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝNHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠOLIÊN THÔNG GDNN- GDĐH

3.3.2.1. Bảng 3: Các mẫu phiếu và số phiếu khảo sát
3.3.2.2. Bảng 4: Danh sách các cơ sở GDNN và GDĐH tham gia ĐTLT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Liên Thông

Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Phát triển nguồn nhân lực trở thành ưu tiên hàng đầu. Nghị quyết 29-NQ/TW khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động. Nguồn nhân lực là động lực phát triển, chìa khóa giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội. Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ và kinh tế tri thức đòi hỏi người lao động phải liên tục được đào tạo và cập nhật kỹ năng. Điều này tác động đến cơ cấu lực lượng lao động, trình độ nhân lực và yêu cầu tuyển dụng trên thị trường lao động. Hàng năm, hàng vạn người lao động có nhu cầu đào tạo tiếp tục và đào tạo lại để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc và chuyển đổi nghề nghiệp. Các hoạt động giáo dục và đào tạo cần được tổ chức linh hoạt, tạo điều kiện cho mọi người học tập thuận lợi và hiệu quả. Theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng, cần chuyển dần sang mô hình giáo dục mở, xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Nghề Nghiệp Trong Bối Cảnh Hiện Nay

Hiện nay, nhiều học sinh sau THPT mong muốn vào đại học hơn là giáo dục nghề nghiệp, vì lo ngại khó khăn trong việc học lên cao hơn. Điều này gây áp lực lớn cho hệ thống giáo dục đại học và lãng phí cho gia đình, xã hội. Hệ thống giáo dục cần thay đổi để đáp ứng nhu cầu học tập liên tục, tạo niềm tin cho mọi công dân. Cần xây dựng hệ thống đào tạo liền mạch giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời. Nghị quyết 29-NQ/TW nhấn mạnh đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức giáo dục, đào tạo.

1.2. Vai Trò Của Đào Tạo Liên Thông Trong Hệ Thống Giáo Dục

Đào tạo liên thông là phương thức đào tạo đáp ứng tốt các yêu cầu trên, cho phép chuyển đổi kết quả học tập mà không cần học lại kiến thức đã có, tránh trùng lặp và rút ngắn thời gian. Đào tạo liên thông được thực hiện ở nhiều quốc gia để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, liên tục của người dân. Để nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, đào tạo liên thông trở thành đòi hỏi khách quan của xã hội, nhằm công nhận và chuyển đổi kết quả học tập từ bậc học này sang bậc học khác mà không phải học lại từ đầu.

II. Thực Trạng Quản Lý Nhà Nước Về Đào Tạo Liên Thông Tại Việt Nam

Từ định hướng lý luận và kinh nghiệm quốc tế, hệ thống giáo dục quốc dân cần tạo ra mối liên thông trong đào tạo giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học để có nguồn nhân lực kế tiếp nhau, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đào tạo liên thông là nhu cầu khách quan xuất phát từ yêu cầu của thị trường lao động về cơ cấu trình độ nghề nghiệp. Thực hiện đào tạo liên thông có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lớn đến hệ thống giáo dục quốc dân, phân luồng học sinh và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao. Vấn đề đào tạo liên thông đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và trở thành chủ trương lớn. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai đào tạo liên thông từ năm 2002 và thu hút sự quan tâm của đông đảo học sinh, phụ huynh, doanh nghiệp và xã hội.

2.1. Những Khó Khăn Trong Quản Lý Nhà Nước Về Đào Tạo Liên Thông

Tuy nhiên, trên thực tế, đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do công tác quản lý đào tạo liên thông nói chung và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông nói riêng còn nhiều bất cập, không hiệu quả. Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo liên thông và đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp - giáo dục đại học là hết sức cấp thiết. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về liên thông và đào tạo liên thông, quản lý hệ thống giáo dục, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở Việt Nam.

2.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Liên Thông

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, việc lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp - giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia” là rất cần thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Mục đích nghiên cứu là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước...

III. Chính Sách Đào Tạo Liên Thông Phân Tích Đề Xuất Mới

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục nhận mạnh: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo” [38]. Đào tạo liên thông là phương thức đào tạo đáp ứng tốt các yêu cầu nói trên do quá trình đào tạo cho phép chuyển đổi kết quả học tập của người học mà không cần phải học lại những kiến thức và kỹ năng đã thu nhận được từ các giai đoạn học tập trước, tránh trùng lặp nội dung đào tạo và rút ngắn thời gian học tập để có được trình độ mong muốn.

3.1. Hoàn Thiện Chính Sách Đào Tạo Liên Thông GDNN GDĐH

Để đáp ứng yêu cầu đó , cần xây dựng một hệ thống đào tạo liền mạch , thông suốt giữa giáo dục nghề nghiệp với giáo dục đại học nhằm đáp ứng nh u cầu học tâ ̣p suốt đời của người dân. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục nhận mạnh: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo” [38].

3.2. Xây Dựng Chuẩn Trình Độ Đào Tạo Liên Thông GDNN GDĐH

Đào tạo liên thông được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển, để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, liên tục của người dân. Trước nhu cầu học tập ngày càng tăng lên, để nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước, đào tạo liên thông trở thành đòi hỏi khách quan của xã hội, nhằm công nhận và chuyển đổi kết quả học tập và rèn luyện của người học từ một bậc học này tới một hoặc một số bậc, cấp học khác trong hệ thống đào tạo mà không phải học lại từ đầu.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Liên Thông

Từ định hướng lý luận cũng như kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và từ thực tế đòi hỏi gay gắt của nền kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay, hệ thống giáo dục quốc dân nước ta phải tạo ra được mối liên thông trong đào tạo giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học để có được nguồn nhân lực kế tiếp nhau, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đào tạo liên thông là nhu cầu khách quan xuất phát từ yêu cầu của thị trường sức lao động về cơ cấu trình độ nghề nghiệp cần đào tạo.

4.1. Tăng Cường Kiểm Định Chất Lượng Đào Tạo Liên Thông

Thực hiện đào tạo liên thông có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng to lớn đến hệ thống giáo dục quốc dân, đến việc phân luồng học sinh và đặc biệt là chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vấn đề đào tạo liên thông đã được Đảng , Nhà nước rất quan tâm và đã trở thành chủ trương lớn của Đảng , Nhà nước và của Ngành giáo dục và đào tạo.

4.2. Đổi Mới Chương Trình Đào Tạo Liên Thông GDNN GDĐH

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai thực hiện đào tạo liên thông từ năm 2002 và đang thu hút sự quan tâm của đông đảo học sinh, các bậc phụ huynh, các doanh nghiệp và toàn xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu học tập của người dân.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Đào Tạo Liên Thông

Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam, đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do công tác quản lý đào tạo liên thông nói chung và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông nói riêng còn nhiều bất cập, không hiệu quả. Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo liên thông và đề xuất được các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp - giáo dục đại học cho phù hợp và có hiệu quả là hết sức cấp thiết.

5.1. Mô Hình Đào Tạo Liên Thông Hiệu Quả Tại Các Trường

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án về liên thông và đào tạo liên thông, quản lý hệ thống giáo dục.xong cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học, luận án nào đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở Việt Nam.

5.2. Đánh Giá Tác Động Của Đào Tạo Liên Thông Đến Thị Trường Lao Động

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, việc lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp - giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia” là rất cần thiết và có ý nghĩa khoa học& thực tiễn cao. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước...

VI. Tương Lai Quản Lý Nhà Nước Về Đào Tạo Liên Thông Việt Nam

Để đáp ứng yêu cầu đó , cần xây dựng một hệ thống đào tạo liền mạch , thông suốt giữa giáo dục nghề nghiệp với giáo dục đại học nhằm đáp ứng nh u cầu học tâ ̣p suốt đời của người dân. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục nhận mạnh: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo” [38].

6.1. Hội Nhập Quốc Tế Về Đào Tạo Liên Thông GDNN GDĐH

Đào tạo liên thông được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển, để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, liên tục của người dân. Trước nhu cầu học tập ngày càng tăng lên, để nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước, đào tạo liên thông trở thành đòi hỏi khách quan của xã hội, nhằm công nhận và chuyển đổi kết quả học tập và rèn luyện của người học từ một bậc học này tới một hoặc một số bậc, cấp học khác trong hệ thống đào tạo mà không phải học lại từ đầu.

6.2. Chuyển Đổi Số Trong Quản Lý Nhà Nước Đào Tạo Liên Thông

Từ định hướng lý luận cũng như kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và từ thực tế đòi hỏi gay gắt của nền kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay, hệ thống giáo dục quốc dân nước ta phải tạo ra được mối liên thông trong đào tạo giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học để có được nguồn nhân lực kế tiếp nhau, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đào tạo liên thông là nhu cầu khách quan xuất phát từ yêu cầu của thị trường sức lao động về cơ cấu trình độ nghề nghiệp cần đào tạo.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia. Chương 2: Thực trạng đào tạo liên thông và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. Chương 3: Các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP-GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC QUỐC GIA 1.

Tổng quan nghiên cứu vấn đề đào tạo và quản lý đào tạo liên thông 1. Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước Trên thế giới, đào tạo liên thông được triển khai thực hiện ở nhiều quốc gia và từ nhiều năm nay, các chuyên gia về giáo dục quốc tế đã có nhiều các nghiên cứu về đào tạo liên thông nhằm làm cho sự chuyển tiếp giữa các bậc trình độ diễn ra thuận lợi và hiệu quả hơn. Trong lịch sử quản lý đào tạo theo hình thức liên thông và chuyển tiếp ở đại học của nước Mỹ thường được gắn liền với tên tuổi quen thuộc trong giới giáo dục đại học Hoa Kỳ, đó là Giáo sư William R. Harper (1856-1906), Viện trưởng Viện đại học Chicago.

Ngay từ năm 1896, Viện trưởng Harper đã chia chương trình đào tạo 4 năm của đại học Chicago thành hai cấp, gọi là 2 năm đầu (Lower Division) và 2 năm cuối (Upper Division), với chiến lược dự trù cho những chuyển tiếp từ LowerDivision lên Upper Division. Nhờ liên thông và chuyển tiếp nên người học sau khi hoàn thành 2 năm ở Junior College, không những được ra trường làm việc phù hợp với khả năng và ngành nghề mà còn có cơ hội học tiếp ở các đại học 4-năm (học tiếp Upper Division, còn gọi là Senior) [55]. Năm 1922, sau một thời gian lãnh đạo nhóm nghiên cứu, Leonard Koos cho ấn hành quyển “Trường đại học ngắn hạn” (“The Junior College”),tạo thêm nền tảng vững chắc cho việc thực hiện đào tạo liên thông. Ông cho rằng sinh viên chuyển tiếp (Transfer Student) từ đại học ngắn hạn học không kém so với những sinh viên đăng ký vào đại học 4 năm ngay từ đầu.

Đến năm 1947, khi một Hội đồng, do Tổng thống Truman chỉ định, phát hành bản Báo cáo nghiên cứu “Giáo dục đại học cho nền Dân chủ Hoa Kỳ”(“Higher Education for American Democracy”). Ngay lập tức, cả nước chú ý đến trường đại học cộng đồng và khuyến cáo xây dựng thêm nhiều trường học loại này. Nhiệm vụ và chức năng chủ yếu của các trường đại học 2 năm là đào tạo hai năm đầu cho chương trình đào tạo 4 năm (cử nhân, kỹ sư), giúp người học chuyển tiếp các kinh nghiệm học tập tích lũy từ 2 năm trước vào đại học để hoàn thành chương trình đào tạo cao hơn và các trường đại học 2 năm còn thực hiện chương trình giáo dục nghề nghiệp để đào tạo nhân lực 9 z có trình độ trung gian giữa bậc kỹ sư và lao động phổ thông cho địa phương [55]. Hiện nay ở Mỹ, trường đại học là thành viên của một nền giáo dục mang tính phổ cập.

Việc đào tạo liên thông đã trở thành vần đề ràng buộc khách quan qua những quy định hay thể chế từ hệ thống. Nhưng về cơ bản, đào tạo liên thông bao gồm liên thông trong phạm vi một trường và chuyển tiếp từ trường đại học ngắn hạn 2 năm đến trường đại học 4 năm hay nhiều hơn. Các công trình nghiên cứu gần đây của L.Bender về đào tạo chuyển tiếp của trường cao đẳng cộng đồng [73], của Trudy H. Bers đóng góp về bộ máy và cơ chế điều hành đào tạo liên thông của trường cao đẳng cộng đồng [70, tr 247], cũng như của Tatiana Melguizo và các đồng sự với nhiều ứng dụng của lý thuyết xác xuất và thống kê trong quản lý đào tạo liên thông gây được nhiều chú ý trong việc tiên lượng số sinh viên chuyển tiếp trong một nền kinh tế thị trường rất phát triển là Hoa Kỳ [75, tr 98-102].

Tuy vậy, việc đào tại liên thông thực sự đa dạng, mỗi nơi có cách làm riêng theo luật định của từng tiểu bang. Ngoài ra, căn bản còn là sự thỏa thuận giữa hai trường và thanh danh của mỗi nhà trường. Sự thừa nhận được thể hiện qua cơ sở kiểm định công nhận chất lượng và uy tín của lãnh đạo các trường hợp tác [55]. Theo một nghiên cứu do Ủy ban Giáo dục của các Bang (Education Commission of the States – 2001) cho thấy hơn 50% sinh viên sau trung học phổ thông (post-secondary) nhập học trong các đại học ngắn hạn 2 năm và trong số đó nhiều sinh viên tiếp tục theo học các chương trình liên thông ở trong các viện đại học 4 năm.

Nghiên cứu khẳng định rằng: do không có những chương trình liên thông thành công mà nhiều sinh viên bỏ dở con đường học tập của mình. Tuy nhiên, nhiều bang của Mỹ không có các quy chế để điều chỉnh việc chuyển tín chỉ từ trường này đến trường khác. Trong quá trình thực hiện ĐTLT, Mỹ cũng gặp nhiều rắc rối khi sinh viên học xong 2 năm tại trường cộng đồng (community college) và chuyển tới viện đại học 4 năm. Những vấn đề nảy sinh đó là [60]: - Sự đối xử không bình đẳng giữa hai bậc học và sinh viên khi chuyển lên bậc học trên luôn bị đánh giá thấp bởi các giảng viên trong các viện đại học.

Phần lớn các viện đại học 4 năm thường áp đặt những quyết định về ĐTLT đối với trường cộng đồng và không muốn từ bỏ quyền kiểm soát của họ nếu chính quyền tiểu bang không ra tay buộc họ phải đối xử bình đẳng với các trường cộng đồng. - Sự không bình đẳng quyền lực trong quá trình ĐTLT gây ra những hậu quả bất lợi đối với chương trình đào tạo của các trường cộng đồng. Trước hết, 10 z sự tự do thiết kế chương trình đào tạo (curriculum) bị hạn chế vì trường cộng đồng ở địa vị thấp hơn phải thực hiện những khóa học để có thể được chấp nhận cho liên thông bởi các khóa của đại học. Vì vậy đã làm giảm đi sự năng động của các trường cộng đồng trong việc mở thêm khóa học mới đáp ứng nhu cầu của học sinh cũng như của thị trường lao động địa phương.

Thời gian gần đây, các trường cộng đồng bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo đã hợp tác có hiệu quả với các đại học để hình thành các tập đoàn trong việc ĐTLT và nghiên cứu. - Hệ thống liên thông phức tạp, bao gồm liên thông dọc, liên thông ngang, liên thông ngược, liên thông đồng thời, tức là học đồng thời cả hai trường ĐH 4 năm và trường cao đẳng cộng đồng. - Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng dịch vụ tư vấn và cố vấn giúp cho quá trình này diễn ra thuận lợi hơn và sự tác động của nhà nước có vai trò không nhỏ trong việc đẩy mạnh quá trình ĐTLT. Ủy ban điều phối giáo dục đại học Texas Hoa Kỳ đưa ra khuyến cáo sau [60]: - Thiết lập một cơ chế báo cáo kết quả học tập của sinh viên học liên thông và báo cáo này được gửi đến trường mà sinh viên đã tốt nghiệp.

- Nghiên cứu sự khả thi trong việc áp dụng hệ thống kiểm định kể cả hệ thống đào tạo cấp bằng on-line. - Xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn biểu mẫu và các tài liệu hướng dẫn rõ ràng và dễ sử dụng. - Sinh viên chuyển từ trường cao đẳng cộng đồng cần hoàn thành khóa học trước khi chuyển lên học ở trường đại học; (một số đại học của Hoa Kỳ cho phép sinh viên có thể học một số môn học ở trường cộng đồng và được miễn trừ khi học trong trường đại học mặc dù chưa hoàn tất bằng cao đẳng). - Cần xây dựng cả chính sách và thủ tục công nhận các tín chỉ do trường đại học cấp và được xem xét để cấp bằng cao đẳng (liên thông ngược).

- Xác định những bài học kinh nghiệm tốt nhất trong hệ thống giáo dục Hoa Kỳ để tạo điều kiện đào tạo liên thông cũng như đánh giá hiệu quả của chính sách liên thông. - Liên quan đến việc trao đổi thông tin giữa các trường nhằm xúc tiến quá trình ĐTLT trở nên cần thiết do sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng có quá nhiều sự lựa chọn sự nghiệp và điều này trở nên phức tạp ngay đối với bản thân sinh viên và tổ chức quá trình ĐTLT (Ủy ban điều phối giáo 11 z dục đại học Taxas). Vai trò của các hoạt động tư vấn và các kênh thông tin mở khá quan trọng. Cán bộ phục trách cần sự hỗ trợ và cần có các công cụ hữu hiệu để phục vụ sinh viên một cách chính xác và kịp thời [60].

Trong một nghiên cứu khác có tiêu đề “Progress Report on Credit Transfer” của hệ thống các trường cao đẳng kỹ thuật Wisconsin, 4-2004 đưa ra một số khuyến cáo về một số vấn đề liên quan đến cơ chế liên thông như: số tín chỉ của phần giáo dục đại cương trong trường cao đẳng cộng đồng, thỏa thuận về đào tạo liên thông giữa các trường, ưu tiên những chương trình liên thông dựa trên “dòng sinh viên” và nhu cầu phát triển kinh tế, thiết lập khung thời gian cho việc xây dựng thỏa thuận. Khuyến cáo đặc biệt nhấn mạnh đến chương trình đào tạo thống nhất (uniform curriculum) hay nói cách khác cần tiêu chuẩn hóa chương trình đào tạo có nhu cầu học tập lớn và đáp ứng với đòi hỏi của nền kinh tế [60]. Ở Canada, ĐTLT cũng tiến hành từ giữa những năm 60 với các hình thức tương tự như Hoa Kỳ và Australia, những đặc điểm chủ yếu là: - Phải có thoả thuận ĐTLT giữa các hệ thống, cơ sở đào tạo và các chương trình đào tạo. - Cơ quan quản lý giáo dục cấp tỉnh của Canada tham gia quản lý nhà nước trong ĐTLT để đảm bảo chất lượng đào tạo và công bố những văn bản hướng dẫn để cho quá trình diễn ra được thuận lợi.

- Gặp khó khăn khi thực hiện ĐTLT như những vấn đề về nguồn lực, tài chính, sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo, trao đổi thông tin giữa các truờng bị hạn chế v. - ĐTLT để cho phép học sinh học lên bậc học cao hơn, cần nhấn mạnh thành tích học tập và trình độ thực tế của sinh viên hơn là chỉ chú ý đến tính chất tương tự của ngành học hoặc khóa học, nhằm đảm bảo hiệu quả cao trong đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản Lý Nhà Nước Về Đào Tạo Liên Thông Giáo Dục Nghề Nghiệp Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách và quy định liên quan đến việc đào tạo liên thông trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý nhà nước trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, từ đó giúp người học có cơ hội phát triển kỹ năng và nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm việc hiểu rõ hơn về các quy định hiện hành, cũng như các phương pháp quản lý hiệu quả trong giáo dục nghề nghiệp. Để mở rộng kiến thức và có thêm góc nhìn đa dạng về lĩnh vực giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình giáo dục hiện tại.

Ngoài ra, tài liệu "Quản lý giáo dục pháp luật cho sinh viên tại Hà Nam" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của giáo dục pháp luật trong việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của sinh viên. Cuối cùng, tài liệu "Tăng cường quản lý giáo dục đại học ở Việt Nam từ góc độ kinh tế" sẽ mang đến những phân tích về cách thức quản lý giáo dục đại học có thể được cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn mới mẻ về quản lý giáo dục tại Việt Nam.