CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KIỂM PHƯƠNG TIỆN THỦY NỘI ĐỊA 1. Phương tiện thuỷ nội địa và đăng kiểm phương tiện thuỷ nội địa 1. Khái niệm, đặc điểm của phương tiện thuỷ nội địa Trong đời sống xã hội, thuật ngữ phương tiện thường được hiểu là những vật dùng để làm một việc gì đó, nhằm đến mục đích nào đó. Trong lĩnh vực GTVT, thuật ngữ "phương tiện" thường được dùng dưới cụm từ "phương tiện giao thông", đó là các vật dùng để di chuyển, đi lại công khai như xe, tàu điện, các phương tiện giao thông công cộng….
Trong mỗi loại phương tiện giao thông lại phân định thành các loại phương tiện giao thông khác nhau. Ví dụ, chỉ trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì phương tiện giao thông đường bộ bao gồm hai loại là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Ở Việt Nam, đường thủy nội địa được xác định là luồng, âu tàu, các công trình đưa phương tiện qua đập, thác trên sông, kênh, rạch, hoặc luồng trên hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven bờ biển, ra đảo, nối các đảo thuộc nội thủy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức quản lý, khai thác GTVT. Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư 23/2011/TT-BGTVT ban hành ngày 31 tháng 03 năm 2011 thì đường thuỷ nội địa được phân thành thành 3 loại bao gồm: Đường thuỷ nội địa quốc gia, đường thuỷ nội địa địa phương và đường thuỷ nội địa chuyên dùng.
Đường thuỷ nội địa quốc gia là tuyến đường thuỷ nội địa nối liền các trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội, các đầu mối GTVT quan trọng phục vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc tuyến đường thuỷ nội địa có hoạt động vận tải thuỷ qua biên giới. 8 Đường thuỷ nội địa địa phương là tuyến đường thuỷ nội địa thuộc phạm vi quản lý hành chính của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chủ yếu phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Đường thuỷ nội địa chuyên dùng là luồng chạy tàu, thuyền nối liền vùng nước cảng, bến thuỷ nội địa chuyên dùng với đường thuỷ nội địa quốc gia hoặc đường thuỷ nội địa địa phương, phục vụ cho nhu cầu GTVT của tổ chức, cá nhân đó. Hiện nay, với một hệ thống đường thuỷ nội địa rất phong phú gồm hơn 2.360 sông kênh, có tổng chiều dài 42.000km, cùng các hồ, đầm, phá, hơn 3.200km bờ biển và hàng nghìn km đường từ bờ ra đảo tạo thành một hệ thống vận tải thuỷ thông thương giữa mọi vùng đất nước, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến hải đảo, góp phần tích cực vào việc vận chuyển hàng hóa và hành khách.
Ưu thế của vận tải đường thủy nội địa là chi phí thấp, vận chuyển hàng hoá khối lượng lớn và ít gây ô nhiễm môi trường. Hiện nay, vận tải đường thủy nội địa giữ tỷ trọng khoảng 25% tổng khối lượng hàng hoá vận tải của toàn ngành GTVT, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 10%; đặc biệt khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vận tải đường thủy nội địa đảm nhiệm khoảng 60-70% tổng khối lượng vận tải hàng hoá trong khu vực với mức tăng trưởng bình quân khoảng 20% năm. GTVT đường thủy nội địa có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hôi, bảo đảm an ninh, quốc phòng và góp phần giao lưu với một số quốc gia lân cận, đồng thời là ngành có tính chất xã hội hoá cao, nhiều thành phần kinh tế đều tham gia kinh doanh vận tải thủy nội địa. Với lợi thế đó, ngành vận tải thuỷ nội địa ở Việt Nam là một ngành vận tải truyền thống, khả năng phát triển các thành phần kinh tế rộng rãi với khả năng thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn, nhất là cho việc đóng mới phương tiện.
9 Hoạt động trong lĩnh vực giao thông đường thuỷ nội địa rất đa dạng, bao gồm hoạt động của người, phương tiện tham gia GTVT trên đường thủy nội địa; quy hoạch phát triển, xây dựng, khai thác, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ GTĐTNĐ và QLNN về giao thông đường thuỷ nội địa….Trong đó, hoạt động của các PTTNĐ là nòng cốt, gắn liền với nhu cầu vận tải của người dân và xã hội, đòi hỏi phải chịu sự quản lý chặt chẽ từ phía nhà nước. PTTNĐ ở Việt Nam rất đa dạng, gồm nhiều loại khác nhau. Theo Khoản 8 Điều 5 Nghị định số 40 ngày 05 tháng 07 năm 2013 về bảo đảm trật tự, an toàn GTĐTNĐ thì Phương tiện thuỷ nội địa bao gồm: - Tàu, thuyền có động cơ hoặc không có động cơ; - Bè mảng; - Các cấu trúc nổi được sử dụng vào mục đích giao thông, vận tải hoặc kinh doanh dịch vụ trên đường thuỷ nội địa.[26] Để bảo đảm tính khái quát, Luật GTĐTNĐ đã quy định: Phương tiện thuỷ nội địa là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên đường thuỷ nội địa.[70] Phương tiện thuỷ nội địa có các đặc điểm sau: Thứ nhất, PTTNĐ hoạt động gắn liền với hệ thống đường thủy nội địa. Trong các loại phương tiện GTVT nói chung thì PTTNĐ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và giao thương, đồng thời là ngành có tính chất xã hội hóa cao, nhiều thành phần kinh tế đều tham gia kinh doanh vận tải thủy nội địa.
Có những thời điểm PTTNĐ đã khẳng định được vị trí trọng yếu trong đời sống xã hội của đất nước. Ví dụ như năm 1967, khi địch bắn phá ác liệt miền Bắc nước ta, vận tải đường sông chiếm 48,7%, tiếp đó mới đến vận tải đường sắt (chiếm 26,8%), vận tải bằng ô tô (chiếm 21,7%), vận tải đường biển (chiếm 0,2%). 10 Thứ hai, PTTNĐ chủ yếu sử dụng vào mục đích phục vụ, tham gia trực tiếp vào việc cung ứng vật tư kĩ thuật, nguyên liệu, năng lượng cho các cơ sở sản xuất và sản phẩm đến thị trường tiêu thụ, giúp cho các quá trình sản xuất xã hội diễn ra liên tục và bình thường, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, giúp cho các hoạt động sinh hoạt được thuận tiện. PTTNĐ có thể coi là một trong những mối liên hệ kinh tế, xã hội giữa các địa phương được thực hiện nhờ mạng lưới GTVT thủy nội địa.
Vì thế, những nơi gần các tuyến vận tải thủy nội địa lớn, các đầu mối GTVT cũng là nơi tập trung các ngành sản xuất, dịch vụ và dân cư. Điều kiện bảo đảm hoạt động của PTTNĐ được quy định tại Điều 24 Luật GTĐTNĐ (sửa đổi, bổ sung năm 2014) như sau: - Đối với phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần trên 15 tấn, phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính trên 15 sức ngựa, phương tiện có sức chở trên 12 người khi hoạt động trên đường thủy nội địa phải bảo đảm các điều kiện sau: + Đạt tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 26 của Luật này; + Có giấy chứng nhận đăng ký PTTNĐ, giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; kẻ hoặc gắn số đăng ký, vạch dấu mớn nước an toàn, ghi số lượng người được phép chở trên phương tiện; + Có đủ định biên thuyền viên và danh bạ thuyền viên theo quy định. - Đối với phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính từ 5 sức ngựa đến 15 sức ngựa hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người khi hoạt động trên đường thủy nội địa phải bảo đảm điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này. - Đối với phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 1 tấn đến 15 tấn hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người, phương tiện có động cơ công 11 suất máy chính dưới 5 sức ngựa hoặc có sức chở dưới 5 người khi hoạt động trên đường thủy nội địa phải có giấy chứng nhận đăng ký PTTNĐ và bảo đảm điều kiện an toàn như sau: + Thân phương tiện phải chắc chắn, không bị rò nước vào bên trong; phương tiện phải thắp một đèn có ánh sáng trắng ở nơi dễ nhìn nếu hoạt động vào ban đêm; phương tiện chở người phải có đủ chỗ cho người ngồi cân bằng trên phương tiện và có đủ áo phao hoặc dụng cụ cứu sinh cho số người được phép chở trên phương tiện; + Máy lắp trên phương tiện phải chắc chắn, an toàn, dễ khởi động và hoạt động ổn định; + Phương tiện phải được kẻ hoặc gắn số đăng ký, ghi số lượng người được phép chở trên phương tiện; + Phương tiện phải được sơn vạch dấu mớn nước an toàn và khi chở người, chở hàng không được ngập qua vạch dấu mớn nước an toàn.
Dấu mớn nước an toàn của phương tiện được sơn một vạch có màu khác với màu sơn mạn phương tiện; vạch sơn có chiều rộng 25 milimét, chiều dài 250 milimét nằm ngang trên hai bên mạn tại vị trí giữa của chiều dài lớn nhất của phương tiện; mép trên của vạch sơn cách mép mạn 100 milimét đối với phương tiện chở hàng, cách mép mạn 200 milimét đối với phương tiện chở người. - Đối với phương tiện thô sơ có trọng tải toàn phần dưới 1 tấn hoặc sức chở dưới 5 người hoặc bè khi hoạt động trên đường thủy nội địa phải bảo đảm điều kiện an toàn quy định tại điểm a khoản 3 Điều này. Để được tham gia GTĐTNĐ thì các PTTNĐ phải bảo đảm còn niên hạn sử dụng theo quy định của Chính phủ. Khái niệm, đặc điểm của đăng kiểm phương tiện thuỷ nội địa Việc đăng ký, đăng kiểm phương tiện là nhu cầu cần thiết, nhằm đưa phương tiện vào quản lý, đồng thời xác lập quyền chủ sở hữu tài sản của chủ 12 phương tiện, đảm bảo trật tự an toàn giao thông.
Trong lĩnh vực GTVT, các văn bản pháp luật chưa có giải thích thống nhất về thuật ngữ "đăng kiểm" mà chỉ có những quy định chung về tiêu chuẩn an toàn cho các phương tiện giao thông và một số quy định mô tả nội dung của của hoạt động này từ góc độ thực hiện nhiệm vụ QLNN.