CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN SỐ 1.Tổng quan về dân số 1. Một số khái niệm liên quan đến dân số Theo trang thông tin điện tử của Tổng cục thống kê (www.vn): Dân số là sự tập hợp của những người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, hoặc đơn vị hành chính. Dân số được xác định dựa trên khái niệm về nhân khẩu thường trú tại các hộ gia đình. Cụ thể, đó là những người thường xuyên ăn và ở tại một hộ tính đến thời điểm đã qua ít nhất 6 tháng từ lúc điều tra.
Trẻ em mới chào đời tại thời điểm thống kê cũng được cộng vào dân số, cũng như những hộ mới dọn đến sinh sống chung trong một gia đình, không phân biệt có hay không có giấy tờ xác nhận (họ khẩu thường trú). Đồng thời, dân số cũng bao gồm những người tạm vắng tại xã, phường hoặc thị trấn hiện nay. Định nghĩa về dân cư theo Liên hợp quốc: Dân cư được xem là một phần quan trọng trong việc hình thành quốc gia - đơn vị cơ bản của luật pháp quốc tế. Dân cư là tập hợp không đồng nhất, bao gồm các cá nhân có nguồn gốc quốc tịch khác nhau (tính từ góc độ pháp lý), nhưng lại tạo thành một cộng đồng mang danh nghĩa của quốc gia, với sự kiểm soát và quyền lực của chính phủ trên lãnh thổ riêng biệt.
Dân cư một quốc gia thường bao gồm hai nhóm chính: công dân bản địa và người nước ngoài. Nhóm người nước ngoài có thể là những người mang quốc tịch của nước hoặc là người không có quốc tịch. Giáo trình Dân số và phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân: Dân số là tập hợp những con người cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất định gọi là cư dân hay dân cư của vùng đó (PGS.PTS Nguyễn Đình Cử).[25] Từ đó ta có thể hiểu Dân số là những người đang sống trên một khu vực được chia theo địa giới hành chính. Dân số được quản lý bởi nhà nước thông 13 qua quy mô, mật độ, chất lượng và cơ cấu dân số, thông qua các chính sách pháp luật mà nhà nước quản lý để đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội Theo nghĩa rộng, dân số được hiểu là một tập hợp người.
Tập hợp này không chỉ đơn thuần về số lượng mà còn về chất lượng và đặc điểm riêng của từng cá nhân. Được tạo thành từ nhiều cá thể, dân số không ổn định mà luôn chuyển biến theo thời gian. Dân số học nghiên cứu kỹ lưỡng những khía cạnh tĩnh và động của dân số, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến sự thay đổi của nó. Theo quy định của Pháp lệnh Dân số năm 2013, Dân số được xem là tổng hợp các cá nhân sinh sống trong một quốc gia, một khu vực, hoặc một đơn vị hành chính theo tiêu chuẩn KT – XH [38].
Công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số [38]. Qua đó, chúng ta nhận thấy rằng việc nói đến dân số là việc nói về quy mô và chất lượng của dân số cùng với những yếu tố gây ra sự biến động của chúng như: sinh, tử và di cư luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định [38]. Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác [38].
Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số [38]. Kế hoạch hóa gia đình được nổ lực thực hiện bởi nhà nước và xã hội nhằm khuyến khích mỗi cá nhân, cặp vợ chồng tham gia tích cực vào quá trình này. Họ có quyền tự do lựa chọn số lượng con, thời điểm sinh con và khoảng cách 14 giữa các đợt sinh để đảm bảo sức khỏe và phát triển toàn diện cho con cái, phù hợp với giá trị xã hội và điều kiện sống của gia đình.[38] Dân số là tổng số người cư trú tại một khu vực địa lý nhất định, đóng vai trò là nguồn lực lao động chủ chốt cho sự phát triển KT - XH. Để xác định quy mô dân số của một quốc gia, các chuyên gia thường dựa vào các chỉ số như tỷ lệ sinh, tử vong và di cư trong quá khứ và hiện tại.
Thông tin về dân số được thu thập thông qua các cuộc điều tra dân số và được thể hiện bằng biểu đồ dân số. Theo lý thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân số không chỉ là lực lượng sản xuất mà còn là lực lượng tiêu dùng; quy mô, cơ cấu, chất lượng và tốc độ tăng dân số đều ảnh hưởng đến quá trình phát triển KT - XH. Việc điều tiết sản xuất xã hội không thể thiếu việc điều tiết dân số. Do đó, chính sách về dân số là điều mà tất cả các quốc gia trên thế giới phải quan tâm, nghiên cứu và áp dụng 1.
Đặc điểm của dân số trong giai đoạn hiện nay Dân số Việt Nam hiện tại ước tính hơn 85,2 triệu người, tăng trung bình khoảng 1,1 triệu người mỗi năm. Dự báo đến năm 2024, dân số nước ta đạt khoảng 100 triệu người, và đến năm 2050, con số này có thể lên tới 115 triệu người. Việt Nam là nước đông dân đứng thứ 13 trên thế giới, đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á. Mật độ dân số nước ta là 254 người/km2, cao gấp 5 lần mật độ dân số các nước phát triển và cao gấp 2 lần mật độ dân số Trung Quốc - nước đông dân nhất thế giới.
Cho đến nay, trên thế giới chỉ có 4 nước có dân số nhiều hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta là Ấn Độ, Nhật Bản, Băng-la- đét và Phi-líp-pin.[35] Chất lượng dân số Việt Nam, nhìn chung là thấp. Dù sở hữu lực lượng lao động trẻ, tỷ lệ biết chữ cao và tuổi thọ trung bình tương đối cao, Việt Nam vẫn 15 đối mặt với những thách thức về sức khỏe. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh đáng báo động, dinh dưỡng của bà mẹ mang thai chưa đáp ứng đầy đủ, khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư còn lớn. Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, đời sống người cao tuổi chưa được đảm bảo, kéo theo chất lượng cuộc sống người dân còn thấp, chênh lệch giữa các vùng miền.
Kết quả là, Chỉ số Phát triển Con người của Việt Nam xếp hạng 109/177, phản ánh thực trạng cần được cải thiện. Nước ta sở hữu quy mô dân số lớn, mật độ dân cư cao, và đang tăng trưởng đều đặn với mức tăng trung bình hàng năm khoảng 1,1 triệu người. Tỷ lệ sinh giảm, tỷ lệ tử vong thấp chưa ổn định. Cơ cấu dân số trẻ, tuy nhiên đang bước vào giai đoạn chuyển đổi dần sang tình trạng già hóa.
Hiện nay, người dưới 29 tuổi chiếm 61,6% và người dưới 34 tuổi chiếm 70% tổng dân số cả nước. Cơ cấu giới tính trẻ sơ sinh có những biểu hiện mất cân đối nghiêm trọng - hiện 115 bé trai/ 100 bé gái (mức chuẩn của thế giới là 106 bé trai/ 100 bé gái)[35]; sự mất cân đối này còn diễn ra rất khác nhau ở các vùng khác nhau. Việt Nam sở hữu tỷ lệ dân số đô thị tương đối thấp so với mặt bằng quốc tế và khu vực, chỉ chiếm khoảng 26,5% dân số cả nước. Dân số nông thôn và đô thị có những đặc điểm riêng biệt rõ rệt.
Mật độ dân số tuy đông nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn, hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. Ngược lại, các vùng Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc lại có mật độ dân cư thưa thớt. Dòng người di cư ồ ạt, chủ yếu là tự do, tự phát, không theo quy luật, từ vùng nông thôn đến đô thị, từ đồng bằng lên miền núi, từ Bắc vào Nam. Chất lượng dân số thấp, thể hiện rõ ở sức khỏe, dinh dưỡng, chiều cao, cân nặng, trình độ văn hóa, kỹ năng sống, nói chung là cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
Mẫu hình gia đình hạt nhân hiện nay đang phải đối mặt với những áp lực và thách thức chưa từng có, bao gồm: ly hôn, quan hệ tình dục đồng giới, sinh 16 con ngoài giá thú, bạo lực gia đình, và các tệ nạn xã hội như cờ bạc, tội phạm, mại dâm, ma túy. Đồng thời, sức khỏe sinh sản, đặc biệt là sức khỏe sinh sản của vị thành niên, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, cùng với đó là số phụ nữ mắc bệnh phụ khoa cao, tỷ lệ thanh thiếu niên quan hệ tình dục sớm gia tăng, số người nhiễm HIV/AIDS gia tăng và tỷ lệ gái mại dâm cũng có xu hướng tăng nhanh. Tóm lại, Dân số hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội.
Việc hiểu rõ những đặc điểm này sẽ giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp hiệu quả để đảm bảo phát triển bền vững cho cộng đồng và xã hội. Vị trí vai trò của dân số trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Về Lực lượng lao động: Dân số cung cấp lực lượng lao động cần thiết cho các hoạt động sản xuất và dịch vụ. Một dân số trẻ và đông đảo có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhờ vào khả năng lao động cao. Thành phố Hồ Chí Minh, với lực lượng lao động trẻ đông đảo, là điểm thu hút đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm.
Về Thị trường tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ mở rộng nhờ quy mô dân số đông. Điều này khuyến khích sản xuất và phát triển doanh nghiệp. Như ở TP HCM, với dân số khoảng 8,9 triệu người, đã trở thành một trong những thị trường tiêu thụ lớn nhất cả nước, thu hút đầu tư và phát triển kinh tế mạnh mẽ. Về sáng tạo và đổi mới: là động lực thúc đẩy sự phát triển trong mọi lĩnh vực, từ công nghệ tiên phong đến nghệ thuật.
Con người là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Toàn bộ tài sản vật chất và sản phẩm đều là kết quả của lao động, sáng tạo và sản xuất của con người.