Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DÂN SỐ 1. Dân số và quy mô dân số Dân số là một tập hợp người sống trên một lãnh thổ, được đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu, mối quan hệ qua lại với nhau về mặt kinh tế, bởi tính chất của việc phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ. Dân số vừa là yếu tố của lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng.
Vì thế quy mô, cơ cấu, chất lượng và tốc độ tăng (hoặc giảm) của dân số có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của một lãnh thổ. Một lãnh thổ nếu có quy mô dân số lớn, cơ cấu dân số trẻ (nhất là trong thời kì cơ cấu dân số vàng) và có sự cân đối hài hòa giữa cơ cấu dân số theo giới tính với nhu cầu lao động của các ngành nghề, cũng như trình độ lao động cao và tốc độ gia tăng ổn định sẽ có tác động tích cực, kích thích sự phát triển của lãnh thổ đó, còn ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển không chỉ ở hiện tại mà cả trong tương lai. Quy mô dân số “Quy mô dân số của một quốc gia (hay một vùng lãnh thổ) tại một thời điểm nhất định là tổng số người sống hay tổng số dân của một quốc gia (vùng lãnh thổ) ấy tại thời điểm đó” (Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh và Lê Thông, 2005). Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số thường xuyên.
Vào những thời điểm nhất định, thường là giữa năm hay cuối năm, người ta thường thống kê số người cư trú trong một vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia, khu vực hay toàn thế giới để tìm hiểu về đặc điểm dân số và biết được quy mô dân số của lãnh thổ đó. Đây là chỉ tiêu định lượng quan trọng trong nghiên cứu dân số, là những thông tin quan trọng có ý nghĩa và cần thiết để tính toán, phân tích, so sánh với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và là căn cứ để hoạch định các chiến lược phát triển. Đồng thời, quy mô dân số còn là đại lượng không thể thiếu trong việc xác định mức sinh, mức chết và di dân của một lãnh thổ. P0 + P1 Để tính dân số trung bình năm người ta dựa vào công thức: P = 2 Luan van 8 Trong đó: P là dân số trung bình năm; P0 là dân số đầu năm và P1 là dân số cuối năm.
Gia tăng dân số Gia tăng dân số là thước đo phản ánh trung thực, đầy đủ tình hình biến động dân số của một quốc gia, một vùng hay một địa phương. Gia tăng dân số của một lãnh thổ trong một khoảng thời gian được xác định bằng tổng số giữa gia tăng tự nhiên (NIR) và gia tăng cơ học (NMR) của lãnh thổ trong khoảng thời gian đó và tính bằng đơn vị phần trăm (%). Gia tăng tự nhiên: bao gồm 2 nhân tố là sinh đẻ và tử vong. Để đánh giá nhân tố sinh đẻ người ta dựa vào các tỉ suất sinh như tỉ suất sinh thô (CBR) và tổng tỉ suất sinh.
Trong đó: + Tỉ suất sinh thô (CBR) là tương quan giữa số trẻ em sinh ra trong năm còn sống so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng ‰. + Tổng tỉ suất sinh (TFR) là số con trung bình mà một phụ nữ có thể sinh ra trong suốt cuộc đời mình nếu như người phụ nữ đó trải qua tất cả các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi của năm đó. Thước đo này cho biết trung bình một phụ nữ sinh bao nhiêu con và được sử dụng rộng rãi trong dân số học. Và để đánh giá nhân tố tử vong người ta dựa vào các tỉ suất tử như tỉ suất tử thô (CDR), tỉ suất tử vong trẻ em 0 – 1 tuổi và tuổi thọ trung bình.
Trong đó: + Tỉ suất tử thô (CDR) là là tương quan giữa số người chết trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng ‰. + Tỉ suất tử vong trẻ em 0 – 1 tuổi (IMR): là tương quan giữa số trẻ em dưới 1 tuổi bị chết trong năm so với số trẻ em sinh ra còn sống ở cùng thời điểm, đợn vị tính bằng ‰. Tỉ suất tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi là thước đo đặc biệt quan trọng trong phân tích mức chết của dân cư, vì nó phản ánh điều kiện sống, trình độ nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe của trẻ em và có ảnh hưởng rất lớn đến mức chết chung và tuổi thọ trung bình của dân cư. IMR có mối quan hệ chặt chẽ với mức sinh.
+ Tuổi thọ trung bình (hay còn gọi là triển vọng sống trung bình) là ước tính số năm trung bình mà một người sinh ra có thể sống được. Tuổi thọ trung bình liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào mức chết của dân cư. Nếu tỉ suất tử thô, đặc biệt là IMR Luan van 9 càng thấp thì tuổi thọ trung bình càng cao và ngược lại. Đây là một thước đo quan trọng của dân số, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống dân cư.
Để đánh giá tổng hợp vấn đề gia tăng dân số tự nhiên của một lãnh thổ người ta dựa vào tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên (NIR) của lãnh thổ đó. Tỉ suất này được xác định bằng hiệu số giữa tỉ suất sinh thô và tỉ suất tử thô (NIR = CBR – CDR) trong một khoảng thời gian xác định, trên một đơn vị lãnh thổ và đơn vị tính là %. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình biến động dân số và được coi là động lực trong phát triển dân số. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên có sự thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Người ta có thể dựa vào tỉ suất này để đề xuất các biện pháp cải thiện chất lượng cuộc sống, điều chỉnh tỉ lệ sinh, tử phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một quốc gia hay khu vực. Gia tăng cơ học Ngoài gia tăng tự nhiên, gia tăng cơ học cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề gia tăng dân số của những lãnh thổ có quy mô nhỏ hơn toàn thế giới. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: Gia tăng cơ học là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định [13]. Gia tăng cơ học bao gồm hai yếu tố là xuất cư và nhập cư.
Trong đó: + Tỉ suất xuất cư là tương quan giữa số người xuất cư khỏi một đơn vị lãnh thổ trong kì nghiên cứu (thường là một năm) so với số dân trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng %. + Tỉ suất nhập cư là tương quan giữa số người nhập cư đến một đơn vị lãnh thổ trong kì nghiên cứu (thường là một năm) so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng %. Và hiệu số giữa tỉ suất nhập cư và tỉ suất xuất cư của một đơn vị lãnh thổ trong kì nghiên cứu (thường là một năm), tính theo đơn vị % được gọi là tỉ suất gia tăng cơ học của lãnh thổ đó. Luan van 10 Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề nhập cư và xuất cư của dân số, trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân được xem là “lực hút” của các vùng nhập cư như đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, khí hậu ôn hòa, môi trường sống thuận lợi; dễ kiếm việc làm, thu nhập cao, điều kiện sinh hoạt tốt, có triển vọng cải thiện đời sống; môi trường xã hội tốt hơn.
Còn các nhân tố tạo lực đẩy dân cư ra khỏi vùng cư trú như điều kiện sống khó khăn, thu nhập thấp, khó kiếm việc làm; đất đai canh tác quá ít, bạc màu, không có vốn và kĩ thuật để chuyển đổi ngành nghề cải thiện đời sống hoặc do chiến tranh. Ngoài ra, các nguyên nhân khác như hợp lí hóa gia đình, nơi ở cũ bị giải tỏa để xây dựng công trình… cũng khiến người dân xuất cư ra khỏi lãnh thổ sinh sống trước đó để tìm đến những vùng đất mới. Cơ cấu dân số Cơ cấu dân số là sự phân chia dân số thành các bộ phận theo những tiêu chí nhất định như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn kĩ thuật…Cơ cấu dân số gồm hai nhóm: cơ cấu sinh học và cơ cấu xã hội. Cơ cấu sinh học: Là cơ cấu phản ánh thành phần, thể trạng về mặt sinh học của dân cư thuộc một lãnh thổ nào đó, gồm cơ cấu dân số theo giới và theo tuổi.
Cơ cấu dân số theo giới là tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc so với tổng số dân. Các thước đo được dùng để tính toán cơ cấu dân số theo giới gồm tỉ số giới tính hoặc tỉ lệ giới tính. Trong đó: + Tỉ số giới tính là sự so sánh giữa số nam với số nữ của dân số một vùng tại một thời điểm nhất định, thông thường được biểu thị bằng số nam trên 100 nữ và đơn vị tính bằng %. Công thức tính là: Tổng số nam Tỉ số giới tính = X 100 Tổng số nữ Tỉ số giới tính cho biết trong tổng dân số, trung bình cứ 100 nữ thì có bao nhiêu nam.
Tỉ số giới tính ít khi cân bằng và thường thay đổi theo các nhóm tuổi, theo thời gian và không gian. + Tỉ lệ giới tính cho biết dân số nam hoặc dân số nữ chiếm bao nhiêu phần trăm (%) trong tổng số dân, đơn vị tính bằng %. Công thức tính là: Luan van 11 Tỉ lệ nam giới = Tổng số nam X 100 Hoặc Tỉ lệ nữ giới = Tổng số nữ X 100 Tổng số dân Tổng số dân Ngoài ra, khi nghiên cứu cơ cấu dân số theo giới, người ta còn nghiên cứu tỉ số giới tính khi sinh, là số bé trai được sinh ra còn sống trên 100 bé gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định (thường là một năm) tại một quốc gia, một vùng hay một địa phương; bình thường chỉ số này là 105 – 106 bé trai/100 bé gái.