CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÊ THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dân số Dân số có liên quan đến nhiều hoạt động, nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội. Dân số thường được hiểu là một tập hợp người sinh sống tại một vùng lãnh thổ nhất định.
Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng. Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động. Ngay bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già hóa và tử vong [8; tr. Như vậy có thể hiểu, dân số là tập hợp những người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, một đơn vị hành chính hoặc vùng địa lý kinh tế.
Khi đề cập đến dân số thường đề cập đến các yếu tố dân số như: quy mô dân số, phân bố dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số. Quy mô dân số được xem như chỉ tiêu phản ánh đặc tính dân số đầu tiên, trong đó có quy mô dân số thời điểm và quy mô dân số trung bình thời kỳ. Quy mô dân số thời điểm là tổng số dân sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định vào những thời điểm xác định (có thể là đầu năm, cuối năm, giữa năm hoặc thời điểm tổng điều tra dân số. Quy mô dân số trung bình thời kỳ là số lượng dân cư được tính bình quân trong một thời kỳ nào đó.
Thời kỳ ở đây được hiểu là dân số trung bình của tháng, của quý, của năm, của nhiều năm. Phân bố dân số (hay còn gọi là phân bố dân cư), là sự sắp xếp số dân trên một vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của người dân và với 10 các yêu cầu nhất định của xã hội, hoặc hiểu là sự phân chia tổng số dân theo các đơn vị hành chính lãnh thổ, theo các vùng địa lý kinh tế, theo vùng địa lý khí hậu và theo thành thị, nông thôn. Để đánh giá về mức độ phân bố dân cư, có thể sử dụng thước đo cơ bản là mật độ dân số. Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân thành các bộ phận theo một tiêu thức nhất định.
Ví dụ như cơ cấu tự nhiên (tuổi và giới tính), cơ cấu dân tộc và cơ cấu xã hội (tình trạng hôn nhân, tôn giáo, trình độ học vấn. Trong đó cơ cấu tuổi và giới tính của dân số là quan trọng nhất bởi vì không những nó ảnh hưởng tới các quá trình dân số như mức sinh và mức chết và di dân mà còn ảnh hưởng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Chất lượng dân số là những thuộc tính bản chất của dân số bao gồm tổng hoà các yếu tố thể lực, trí lực và tinh thần của con nguời phù hợp với quy mô, cơ cấu dân số (tuổi, giới tính, phân bố, trình độ học vấn, nghề nghiệp.) và với trình độ phát triển kinh tế xã hội. Có thể đánh giá chất lượng dân số theo các nhóm chỉ tiêu: Các chỉ tiêu về dân số: là những chỉ tiêu phản ánh mức độ hợp lý về qui mô, cơ cấu và phân bố dân số, cũng như các chỉ tiêu về các quá trình dân số cần điều chỉnh như mức sinh, mức chết, di dân; Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng con người: là những chỉ tiêu đánh giá về năng lực của các cá nhân có thể thích nghi tốt với xã hội như thể lực (chỉ số khối lượng cơ thể BMI, tuổi thọ khoẻ mạnh, tỷ lệ suy dinh dưỡng.), trí tuệ (chỉ số IQ, số năm đi học trung bình.) và năng lực xã hội (chỉ số kỹ năng nghề nghiệp.) của con người; Các chỉ tiêu về môi trường kinh tế xã hội: nhóm chỉ tiêu này đánh giá mức độ thuận lợi, đầy đủ trong môi trường kinh tế xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển hoàn thiện của con người.
Ví dụ về mặt kinh tế, thu nhập, việc làm có thể sử dụng các chỉ tiêu như GDP bình quân đầu người, chỉ số nghèo khổ, tỷ lệ thất nghiệp, mức thu nhập bình quân, diện tích nhà ở bình quân.; về giáo dục đào tạo 11 sử dụng các chỉ tiêu như tỷ lệ học sinh đến trường đúng tuổi, tỷ lệ học sinh bỏ học theo giới tính,.; về mặt bảo vệ chăm sóc sức khoẻ, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ sử dụng các chỉ tiêu như: tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ 6 loại vaccin, tỷ lệ sử dụng các BPTT, số cán bộ y tế, giường bệnh/1000 dân, tỷ lệ nhiễm HIV (đặc biệt ở tuổi vị thành niên/thanh niên), tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và phá thai (đặc biệt ở tuổi vị thành niên/thanh niên). Khái niệm thực thi chính sách dân số Chính sách công với những tác động có chủ đích bằng chương trình hành động được thực hiện nhằm đạt các mục tiêu đã xác định. Chính sách phải được triển khai trong thực tiễn đời sống xã hội. Một chính sách tốt/ xấu chỉ có thể xác định khi trải qua thực tiễn khách quan xã hội; và được phán xét tích cực khi và chỉ khi đạt được ý chí, nguyện vọng của đại đa số người dân.
Hơn nữa, việc thực thi chính sách là một tất yếu khách quan nhằm duy trì sự tồn tại các công cụ của chính sách và nhằm đạt mục tiêu đề ra theo yêu cầu quản lý nhà nước. Thực thi chính sách công là việc tổ chức và hoạt động nhằm thực thi chính sách vốn đã được cơ quan lập pháp ban hành [6; tr. Hoặc có thể hiểu thực thi chính sách là bước chuyển các ý đồ của chính sách thành hiện thực bằng các hoạt động có tổ chức của cơ quan nhà nước nhằm đạt mục tiêu đã xác định [6; tr. Như vậy, thực thi chính sách công là toàn bộ hoạt động tham gia của các chủ thể trong quá trình tổ chức triển khai chương trình hành động bằng các giải pháp, công cụ đã được xác lập trong các quyết định mang tính pháp lý để hiện thực hóa mục tiêu định hướng của nhà nước nhằm cải thiện và phát triển xã hội.
Với cơ sở nêu trên, thực thi chính sách dân số được hiểu là toàn bộ 12 hoạt động tham gia của các chủ thể trong quá trình tổ chức triển khai chương trình hành động về lĩnh vực dân số bằng các giải pháp, công cụ đã được xác lập trong các quyết định mang tính pháp lý nhằm hiện thực hóa các mục tiêu định hướng của nhà nước về dân số - sức khỏe và dân số - phát triển, vì một xã hội ổn định và phát triển bền vững. Như vậy, thực thi chính sách dân số bao gồm những hoạt động tham gia của nhiều chủ thể theo kịch bản chương trình hành động đã được nhà nước duyệt thông qua nhiều giải pháp, công cụ phù hợp quy định của pháp luật để tác động tới quy mô dân số, cơ cấu dân số, điều tiết phân bố dân cư một cách có kiểm soát và nâng cao chất lượng dân số. Thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS cũng là một nội dung thực thi chính sách dân số. Tuy nhiên, nội dung thực thi chính sách dân số trong đồng bào các DTTS lại hướng tới bộ phận đặc thù là đồng bào các DTTS.
Khái niệm dân tộc thiểu số Dân cư ở mỗi nước thường bao gồm nhiều dân tộc với những đặc điểm khác nhau về sinh hoạt, phong tục, tập quán, ngôn ngữ…Phần lớn các nước đều có nhiều dân tộc, từ vài chục đến hàng trăm (Liên bang Nga, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Iran…). Các quốc gia chỉ có một dân tộc tương đối hiếm hơn (Nhật, Triều Tiên, Bangladesh, một vài nước ở châu Âu và trên báo đảo Ả Rập). Trong khi đó, có nhiều dân tộc lại sinh sống trong hai hay nhiều quốc gia. Trong cơ cấu dân số theo dân tộc của một nước bao giờ cũng có một (hoặc một số) dân tộc đa số và có dân tộc thiểu số.
Ngôn ngữ của dân tộc đa số thường được coi là ngôn ngữ chính của nước đó. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm các dân tộc Kinh, Mường, Mán, Thổ, Tày, Nùng, Thái, Dao, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Chăm, Khơme… 13 Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã cho thấy, bất kỳ ở đâu và trong thời điểm nào thì đồng bào các dân tộc thiểu số anh em cũng kề vai, sát cánh cùng với đồng bào Kinh để cùng chống thiên tai, địch họa, dịch bệnh. Bất cứ một dải đất biên cương nào của Tổ quốc cũng có sự góp sức, không kể máu xương của đồng bào các dân tộc anh em. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì “nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc.
Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp. Các dân tộc thiểu số đã sát cánh với anh em đa số chiến đấu chống kẻ thù chung, đưa Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến đến thắng lợi… Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vậy, thế nào là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, như chúng ta đã biết “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia, đó là dân tộc Kinh với 85,7% dân số cả nước. Các dân tộc khác đều là dân tộc thiểu số. Như vậy, chúng ta có thể hiểu Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số cả nước, đa số các dân tộc thiểu số đều tập trung sinh sống ở những khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn, vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe người dân còn nhiều hạn chế.