Chương 1 tổng quan đề tài nghiên cứu bao gồm việc nêu rõ lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và khảo sát. Những mục trên được nêu ra nhằm xác định hướng làm nghiên cứu và thu thập dữ liệu để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra. 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Quyết định lựa chọn nơi làm việc phù hợp Đối với hầu hết các sinh viên mới ra trường, việc lựa chọn một công việc dành cho người chưa có kinh nghiệm là một quá trình khó khăn.
Bên cạnh việc phải tìm cho mình một công việc đúng với chuyên môn, cho phép sinh viên được trải nghiệm và tích lũy kinh nghiệm thì sinh viên cân nhắc đến nhiều yếu tố khác như lương bổng, phúc lợi, môi trường làm việc, vị trí, cơ hội phát triển,… Những yếu tố trên góp phần giúp sinh viên đưa ra quyết định có tìm việc làm tại một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh hay không và lựa chọn nơi làm việc kể cả tổ chức trong hay ngoài nhà nước. Chẳng hạn như Mô hình di cư nông thôn – thành thị (1969) của nhà kinh tế học người Mỹ - Michael Todaro đã cho rằng “Người di cư nhận thức rõ về cơ hội việc làm ở các thị trường lao động nông thôn và thành thị” và yếu tố tiền lương cao chính đã thu hút người di cư đến thành thị. Trong khi các địa phương khác cần phải tạo điều kiện và các chính sách thu hút lao động thì thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế như nền kinh tế năng động, phát triển, cơ hội việc làm đa dạng, chất lượng cuộc sống cao giúp thu hút nhiều nhân tài trẻ như các sinh viên sắp tốt nghiệp tại các trường đại học trong thành phố. Vừa giữ chân được các sinh viên ở tỉnh khác làm việc, thành phố Hồ Chí Minh vẫn có thể có được các sinh viên đã sinh ra và lớn lên tại thành phố này trước đó do người lao động thường có ý định làm việc tại quê hương mình, tự hào khi được giúp quê hương phát triển giàu đẹp hơn (Philip Kotler).
Trong đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định về quê làm việc của sinh viên kinh tế, trường đại học Cần Thơ” của Lê Trần Thiên Ý, Nguyễn Hồ Anh Khoa và Mã Bình Phú đã kết luận rằng các yếu tố về cơ hội việc làm, điều kiện để phát huy khả năng bản thân, cơ hội tiếp xúc với trình độ quản lý tiên tiến đã tác động mạnh đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên. Nhóm tác giả cũng cho rằng việc thực 6 hiện các chính sách ưu đãi nhân tài là cân thiết và các cơ quan nhà nước cần tích cực hỗ trợ sinh viên trong cơ chế tuyển dụng nhân sự hằng năm. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên Trong Tháp nhu cầu của Maslow thì người lao động có 5 bậc mong muốn được xếp từ đáy tháp lên đỉnh tháp theo hình chóp như sau: Bậc 1: Có việc làm để tự nuôi sống và đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia đình Bậc 2: Cảm giác an toàn mà công việc mang lại để khiến người lao động gắn bó lâu dài. Bậc 3: Khi đáp ứng được 2 bậc trên, người lao động sẽ có nhu cầu mở rộng các mối quan hệ của mình với nhiều người trong ngành hơn để phát triển bản thân và sự nghiệp.
Bậc 4: Nhu cầu được kính trọng trong tháp nhu cầu Maslow được chia làm hai loại: - Mong muốn danh tiếng, sự tôn trọng từ người khác: được thể hiện qua danh tiếng, địa vị, vị trí mà người khác đạt được trong xã hội hoặc trong một tổ chức, tập thể nào đó. - Lòng tự trọng đối với bản thân: đây là một yếu tố cực kỳ quan trọng để phát triển bản thân, nó thể hiện ở việc tự coi trọng phẩm giá, đạo đức của bản thân. Một người thiếu lòng tự trọng rất dễ dẫn đến mặc cảm, thường thấy lo lắng trước những điều khó khăn của cuộc sống. Bậc 5: Thể hiện bản thân: xây dựng con đường sự nghiệp lâu dài.
Đây là mong muốn được ghi nhận, nhận sự tín nhiệm từ cấp trên. Nhu cầu này giúp người lao động cố gắng, phát triển bản thân và mang lại nhiều giá trị hơn cho doanh nghiệp. Nhu cầu cá nhân của mỗi người lao động không nhất thiết phải rập khuôn như 5 bậc trong tháp nhu cầu Maslow mà phải tùy nhu cầu cá nhân nhiều hay ít. Tuy nhiên, tháp nhu cầu Maslow là cơ sở cho hầu hết các doanh nghiệp xây dựng chính sách nhân lực.1 Tháp nhu cầu Maslow Huy và Dung đã làm một cuộc khảo sát 200 sinh viên đại học Cần thơ để tìm ra Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp, từ đó làm cơ sở được tham khảo cho các nghiên cứu sau.
Theo hai tác giả trên, quyết định lựa chọn của sinh viên đại học Cần Thơ chịu ảnh hưởng bởi ba nhóm yếu tố chính: - Nhóm Sự ảnh hưởng của môi trường việc làm bao gồm: Cơ hội học tập, người thân ở nơi làm việc, thu nhập, dễ tìm việc. Trong đó cơ hội phát triển nghề nghiệp, cơ hội học tập là các yếu tố được đánh giá quan trọng hơn so với yếu tố thu nhập và cơ hội tìm việc làm. Đó cũng là lí do vì sao thành phố Hồ Chí Minh thu hút nhiều nhân lực hằng năm. - Nhóm yếu tố gia đình: Huy và Dung cho rằng các yếu tố liên quan đến gia đình như gần nhà, chi phí sinh hoạt ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên.
Kết luận này trùng khớp lý thuyết “Tiếp Thị địa phương” của Philip Kotler (1993). - Kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp: 3 nhóm kĩ năng được nghiên cứu là Kĩ năng cơ bản (Ngoại ngữ, Tin học, Giao tiếp, Làm việc độc lập), kĩ năng ứng dụng (Tính tổ chức, Quản lý, Phân tích, Làm việc nhóm, Tin học ứng 8 dụng, Hoạch định, Đàm phán), kĩ nang phát triển (tổng hợp, lãnh đạo, phát triển quan hệ, tổ chứ nguồn nhân lực, đưa ra quyết định). Sinh viên được đào tạo rất tốt về các kĩ năng mền khi còn ngồi ghế nhà trường. Tuy nhiên, sinh viên lại chưa có nhiều điều kiện và cơ hội để đáp ứng được cái kĩ năng ứng dụng và phát triển – các kĩ năng cần thiết để trở thành lao động tốt đáp ứng yêu cầu ngày càng nâng cao của các doanh nghiệp cả trong hay ngoài nước.
Cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phân hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng hành pháp (quản lý hành chính nhà nước). Nghiên cứu địa vị pháp lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước nhằm xác định vai trò của cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là chủ thể của pháp luật hành chính và chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính trong quản lý hành chính nhà nước. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, tùy từng trường hợp cụ thể mà cơ quan hành chính nhà nước sẽ là chủ thể quản lý hành chính nhà nước tức là chủ thể mang quyền lực nhà nước hay là đối tượng quản lý hành chính nhà nước tức chủ thể không mang quyền lực hành chính.
Tuy nhiên, dù ở tư cách nào thì cơ quan hành chính nhà nước cũng là chủ thể chủ yếu, quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật hành chính. Đặc điểm: Cơ quan hành chính nhà nước cơ quyền nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiên các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Biểu hiện của tính quyền lực nhà nước đó là: Cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản pháp luật như nghị 9 định, quyết định, chỉ thị và có thể được áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính nhà nước nhất định. – Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Nói cách khác, cơ quan hành chính nhà nước có tính độc lập tương đối về cơ cấu – tổ chức (có cơ cấu bộ máy và quan hệ công tác bên trong của cơ quan được quy định trước hết quy định trước hết nhiệm vụ, chức năng, thể hiện vai trò độc lập)… Cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như Luật tổ chức Chính phủ 2015, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015,… – Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên quy định của pháp luật, có chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước mà quan hệ đó được quy định bởi thẩm quyền nhất định do pháp luật quy định – đó là tổng thể những quyền, nghĩa vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực – pháp lý mà nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt cơ quan hành chính nhà nước với cơ quan không phải của nhà nước vì những cơ quan, tổ chức đó không có thẩm quyền được quy định trong pháp luật. – Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008.