CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG 1. Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về công chứng 1. Khái quát về công chứng 1. Khái quát các mô hình công chứng trên thế giới Theo Từ điển Luật học của Mỹ, công chứng (Notarial) là hoạt động của công chứng viên… Công chứng viên, theo tiếng Latinh là “Notarius”.
“Notarius” trong Luật Anh cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng. Trong Luật La Mã, là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu. Theo cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch sử loài người (từ thời La Mã cổ đại), với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng. Khởi đầu, công chứng là một nghề tự do trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết lập các văn tự, khế ước.
Trải qua những biến đổi cùng với những quan điểm, quan niệm về chứng cứ, các chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau thì tổ chức và hoạt động công chứng cũng thay đổi và được quy định khác nhau. Tuy nhiên, dù ở giai đoạn lịch sử nào, chế độ chính trị, kinh tế, xã hội nào thì công chứng cũng luôn khẳng định sự tồn tại và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, được Nhà nước thừa nhận và trở thành hoạt động hỗ trợ đắc lực cho công dân và Nhà nước trên cả hai phương diện hỗ trợ hành pháp (quản lý nhà nước) và bổ trợ tư pháp. Cho đến nay, công chứng tồn tại ở hầu hết các quốc 7 gia trên thế giới và chủ yếu hình thành nên ba hệ thống như sau: hệ thống công chứng Latinh; hệ thống công chứng Anglo-saxon; hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể). Mỗi hệ thống công chứng này có những đặc điểm cơ bản như sau: - Hệ thống công chứng Latinh: Tương ứng với hệ thống luật La Mã (còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự-Civil Law) Hệ thống này tồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch và Vương quốc Anh); châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ-Latinh, bang Quebec của Canada, bang Luisane của Hoa Kỳ, một số nước châu Á như: Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam.
Hiện nay, hệ thống công chứng Latinh đã hình thành tổ chức quốc tế của mình đó là Liên minh công chứng quốc tế Latinh (tên viết tắt là UINL) với 84 thành viên trong đó có Việt Nam (Theo quy định của UINL, một trong những điều kiện để công chứng của một quốc gia được xem xét gia nhập UINL là phải có Tổ chức xã hội-nghề nghiệp toàn quốc của các công chứng viên. Hiện nay, do Việt Nam chưa thành lập được Tổ chức xã hội-nghề nghiệp toàn quốc theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 nên UINL đã đồng ý để Hội công chứng viên Thành phố Hồ Chí Minh đại diện cho các Hội công chứng viên cả nước gia nhập UINL và UINL yêu cầu Việt Nam phải sớm thành lập Tổ chức xã hội-nghề nghiệp toàn quốc để sớm trở thành thành viên đầy đủ của UINL theo quy định của Tổ chức). Đối với hệ thống này, phạm vi công chứng được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ, việc nào bắt buộc phải công chứng, việc nào chỉ công chứng khi đương sự có yêu cầu. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng rất cao (có giá trị làm chứng cứ).
Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm, có thể là công chức hoặc không, nhưng để hành nghề công chứng thì họ phải được Nhà nước bổ nhiệm và hoạt động chuyên trách chứ không được kiêm nhiệm chức danh 8 nào khác. Công chứng viên được Nhà nước uỷ thác một phần quyền lực và có con dấu riêng khắc tên công chứng viên đó hoặc tổ chức hành nghề công chứng đó. Với tư cách là uỷ viên công quyền, công chứng viên có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, thể hiện ở việc chính họ được người đứng đầu Nhà nước hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân và an toàn pháp lý của các quan hệ hợp đồng, giao dịch, đồng thời chịu trách nhiệm cá nhân và bồi thường thiệt hại do văn bản đã được mình công chứng gây ra nếu có lỗi. Công chứng viên là những nhà luật pháp, họ giúp mọi người lựa chọn và định đoạt tài sản của mình theo cách hợp lý nhất, đồng thời họ có nghĩa vụ tư vấn cho các bên giao kết hợp đồng một cách vô tư, không thiên vị, giải thích cho các bên về phạm vi, các hệ quả, rủi ro mà văn bản công chứng có thể làm phát sinh để bảo vệ lợi ích của tất cả các bên trong hợp đồng, dù đó là bên bán hay bên mua.
Với nghĩa vụ tư vấn này, công chứng viên không chỉ làm nhiệm vụ cùng ký vào hợp đồng, xác nhận ý chí của các bên mà còn có nhiệm vụ giúp đỡ các bên thể hiện ý chí đó trong hợp đồng, lựa chọn các thể thức ký kết hợp đồng phù hợp tùy thuộc vào mục đích của hợp đồng, vào các quy định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. Yêu cầu về bình đẳng là một yêu cầu rất quan trọng của các quan hệ mang tính dân sự. Do vậy, công chứng viên còn giữ vai trò là trọng tài và trung gian hoà giải đối với các bên. Hoạt động này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho các bên khi tham gia giao kết, làm cho ý chí của các bên xích lại gần nhau hơn và sớm đạt được sự thống nhất cao ngay khi ký kết, từ đó hạn chế đến mức thấp nhất việc xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện.
Đối với các văn bản công chứng, công chứng viên đem lại cho các văn 9 bản này tính xác thực, có giá trị như văn bản do các cơ quan công quyền cấp, đảm bảo cho các văn bản công chứng sự an toàn trong mọi tình huống, hạn chế đến mức thấp nhất những tranh chấp có thể xảy ra, từ đó góp phần giảm bớt gánh nặng quá tải về xét xử cho Toà án. Điều này cho thấy công chứng viên giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo trật tự pháp lý, trật tự xã hội, đó là vai trò bổ trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp đồng. Về phí công chứng, công chứng viên phải tuân thủ một mức phí bắt buộc do Nhà nước quy định, cả công chứng viên và khách hàng đều phải chấp hành. Mức phí này có chức năng phân phối lại và tạo điều kiện thuận lợi cho những người nghèo tiếp cận pháp luật và hưởng dịch vụ công chứng.
Trong mọi trường hợp, công chứng viên phải lập văn bản công chứng dù cho đó là vụ việc có giá trị rất nhỏ, tiền phí ít, đó là một nghĩa vụ gắn chặt với nhiệm vụ vì lợi ích công của họ. Từ những đặc điểm nêu trên có thể nhận thấy hệ thống công chứng Latinh có những ưu điểm như: Tính quyền lực công được thể hiện rõ thông qua việc Nhà nước bổ nhiệm công chứng viên, trao cho họ quyền lực công và coi họ như công chức; cơ chế tự chủ về tài chính đã giảm được gánh nặng cho Nhà nước, huy động được nguốn vốn cá nhân để đầu tư phát triển, gắn trách nhiệm cá nhân với việc mua bảo hiểm nghề nghiệp và bồi thường trách nhiệm dân sự; phí công chứng do Nhà nước quy định đã tạo cho mọi công dân trên toàn lãnh thổ đều được quyền bình đẳng hưởng dịch vụ công chứng với mức phí như nhau; văn bản công chứng là chứng cứ viết được lưu giữ lâu dài, có giá trị làm chứng và không phải chứng minh trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu, đem lại an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch, đảm bảo tính hợp pháp, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, làm lành mạnh hoá các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại trong đời sống xã hội; các văn bản do công chứng viên lập ra mang tính kỹ thuật cao, 10 viện dẫn các điều luật được áp dụng đối với từng chi tiết. Để đảm bảo tính xác thực, công chứng viên phải kiểm tra không chỉ các thông tin về khách hàng, mà cả hiện trạng pháp lý của đối tượng giao dịch. Đối với các bên tham gia giao dịch, họ luôn được bảo vệ lợi ích khi có sự hiện diện của một người chuyên nghiệp có trình độ pháp lý, được Nhà nước giao nhiệm vụ đem lại tính xác thực cho các giao dịch và đảm bảo sự an toàn cho các giao dịch đó, trong quá trình các bên tham gia giao dịch thì các bên sẽ dễ đi đến sự cân bằng của các thoả thuận và xác định ý chí đích thực của các bên giúp tránh xảy ra các tranh chấp về sau.
Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm thì hệ thống công chứng Latinh cũng có những hạn chế như: Tính hình thức của hệ thống luật viết làm cho nhiều quy định về thể thức được đặt ra buộc công chứng viên phải hoàn thành trước và sau khi ký nên làm cho các yêu cầu công chứng phải mất nhiều thời gian nhất là đối với khách hàng là doanh nhân thì nhiều khi họ có thể mất đi cơ hội kinh doanh. - Hệ thống công chứng Anglo-saxon: Tương ứng với hệ thống pháp luật Anglo-saxon (Common Law) Mô hình công chứng theo hệ thống này tồn tại ở các nước theo luật án lệ như: Vương quốc Anh, Mỹ (trừ bang Luisane), Canada (trừ bang Quebec), Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Đài Loan. Đối với mô hình công chứng Anglo-saxon thì phạm vi công chứng không được quy định rõ ràng; nội dung, hình thức văn bản không được pháp luật quy định chặt chẽ, thể chế công chứng hầu như không được thiết lập. Nhà nước không bổ nhiệm một chức danh hoạt động công chứng chuyên nghiệp và trao quyền năng để thay mặt Nhà nước đem lại tính xác thực cho những hợp đồng, văn bản.
Ở các quốc gia này công chứng là một nghề tự do hoạt động kiêm nhiệm, 11 tính chất chuyên nghiệp về nghiệp vụ công chứng ở quốc gia này không cao.