Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 1. Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm giới - Giới đề cập đến những khác biệt và mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới. Nói cách khác, giới đề cập đến các quan niệm, thái độ, hành vi, mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể, do học hỏi mà có và có thể thay đổi theo thời gian. Có rất nhiều quan niệm về giới khác biệt giữa các nền văn hóa và các khu vực khác nhau, ví dụ: có quan niệm xã hội cho rằng con trai không được khóc, không được chơi búp bê, con gái không được leo trèo; hay nam giới phải làm trụ cột trong gia đình, phụ nữ thì phải tề gia nội trợ; chăm sóc con cái… Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì “giới chỉ đặc điểm vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [36, tr.1]; còn “giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ” [36, tr.
- Giới tính là chỉ sự khác biệt phổ biến về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Đó là những đặc điểm riêng và có được hình thành tự nhiên từ khi con người sinh ra và rất khó thay đổi, ví dụ: nữ ở mọi nơi trên thế giới, ở thành thị hay nông thôn đều giống nhau ở chức năng mang thai, sinh con và chỉ có họ mới có khả năng sinh con và mang thai, ngược lại chỉ có nam giới mới có khả năng tạo ra tinh trùng. Cần phân biệt sự khác nhau giữa “giới” và “giới tính”. Giới tính đề cập đến những đặc trưng khác nhau giữa nam giới và phụ nữ về mặt y - sinh học và chức năng tái sản xuất nòi giống.
Trong khi đó giới là chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội. Bởi thế, chúng ta chỉ có thể nói “bình đẳng giới” chứ không có “bình đẳng giới tính”. Vì giới là những vai trò, vị trí mà xã hội quy định nên có thể đòi hỏi bình đẳng, còn giới tính là do tự nhiên sinh ra, 8 không thể thay đổi theo không gian và thời gian nên không thể đòi hỏi hay đấu tranh để nam giới có cấu tạo giống như nữ hay ngược lại, nữ phải có cấu tạo giống nam. Theo nhận thức học viên, giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ.
Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Giới còn là thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ. Là một phạm trù xã hội, giới cũng giống như chủng tộc, tộc người và phân tầng xã hội, trong một mức độ lớn, sẽ quyết định cơ hội cuộc sống của con người. Khái niệm về giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ.
Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi, hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới. Những quy định/mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm này phù hợp với với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đồng xã hội. Bình đẳng giới Bình đẳng giới có nghĩa là những ứng xử, những khát vọng và những nhu cầu khác nhau của phụ nữ và nam giới đều được cân nhắc đánh giá và ủng hộ như nhau. Bình đẳng giới không có nghĩa nữ giới và nam giới trở thành như nhau, nhưng các quyền, trách nhiệm và các cơ hội của họ không phụ thuộc họ sinh là nam giới hay nữ giới.
Theo Luật bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [36, tr. Bình đẳng giới bao hàm bình đẳng về quyền, bình đẳng về cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, bình đẳng về thụ hưởng những thành quả và lợi ích, bình đẳng giới không đơn thuần là nam giới làm việc gì thì nữ giới cũng phải 9 làm như nam giới và ngược lại. Bình đẳng giới luôn xét đến khía cạnh khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, tôn trọng sự khác biệt này chính là tạo cơ hội, điều kiện thực hiện bình đẳng giới. Để đạt được mục tiêu bình đẳng giới cần đảm bảo các yếu tố sau: Thứ nhất, nam giới và nữ giới phải có vị trí vai trò như nhau trong gia đình và ngoài xã hội.
Điều đó có nghĩa là cả hai giới đều có điều kiện và cơ hội như nhau để phát huy năng lực, không đặt nam và nữ vào những công việc như nhau là thể hiện bình đẳng giới. Thứ hai, nam giới và nữ giới có điều kiện và cơ hội như nhau để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng và gia đình. Nam hay nữ đều được tạo điều kiện và cung cấp cơ hội để phát huy năng lực bản thân, nhưng phát huy như thế nào, phát huy đến đâu là tùy vào năng lực của mỗi người, không nhất thiết nam giới làm lãnh đạo thì nữ giới cũng phải làm lãnh đạo tương đương. Thứ ba, nam và nữ được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển của cộng đồng và gia đình.
Bình đẳng giới thật sự có ý nghĩa khi nó mang lại cơ hội như nhau cho mọi người lựa chọn và thể hiện năng lực của mình đúng như họ mong muốn. Bình đẳng giới không có nghĩa nam giới và nữ giới phải trở thành như nhau, nhưng các quyền, trách nhiệm và các cơ hội của họ sẽ không phụ thuộc họ sinh ra là nam giới hay phụ nữ, ví dụ: Bộ Luật lao động quy định “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử” [39, tr.2] về giới tính. - Định kiến giới: khác biệt giới là do con người tạo nên. Mỗi xã hội, con người có những suy nghĩ, quan niệm và những mong đợi khác nhau đối với phụ nữ và nam giới.
Những suy nghĩ, quan niệm và mong đợi này thường thiên lệch, cố hữu, lặp đi lặp lại nhiều lần và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua 10 quá trình xã hội hóa mà hình thành, nó là định kiến giới. Nó còn là suy nghĩ của xã hội về loại hoạt động hoặc các đặc điểm được gán cho là của phụ nữ hay nam giới. Theo Luật bình đẳng giới “định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ” [36, tr.1], và “phân biệt đối xử là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây mất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [36, tr. Bình đẳng giới không chấp nhận định kiến giới, phân biệt đối xử về giới trên mọi hình thức.
Bình đẳng giới là mục tiêu nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam giới và nữ giới trong phát triển kinh tế- xã hội và phát triển nguồn lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ, thiết lập, củng cố quan hệ hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội. Công bằng giới chỉ sự bình đẳng của kết quả đầu ra, có nghĩa là nam giới và nữ giới đều có những cơ hội công bằng không chỉ trong xuất phát điểm mà còn trong kết quả. Công bằng giới là sự đối xử công bằng cho cả hai giới, có xem xét đến những nhu cầu khác nhau của nam giới và nữ giới, những rào cản văn hóa, những quan niệm phân biệt đối xử trong quá khứ của từng nhóm đối tượng nhất định. - Lồng ghép giới: Theo Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc đưa ra năm 1997, “lồng ghép giới là một chiến lược làm cho các mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ cũng như nam giới, là một phần không thể tách rời trong thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách, chương trình trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, làm cho phụ nữ và nam giới có thể hưởng lợi như nhau và bất bình đẳng không tồn tại lâu dài” [28,tr.
Như vậy lồng ghép giới là cách thức đưa quan điểm bình đẳng giới vào mọi thiết chế, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển của xã hội và cộng đồng nhằm làm 11 cho các chính sách, chương trình, kế hoạch đáp ứng nhu cầu giới, đem lại lợi ích cho cả phụ nữ và nam giới. Lồng ghép giới được xem là công cụ để quản lý nhà nước tốt vì phương pháp này đảm bảo thực hiện quản lý nhà nước đáp ứng mọi nhu cầu và lợi ích của mọi thành viên trong đời sống xã hội, đảm bảo cơ hội thụ hưởng bình đẳng cho cả nam giới và nữ giới một cách công bằng. Khái niệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới Quản lý: Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu của từng lĩnh vực mà có các khái niệm về quản lý khác nhau. Nhìn chung, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành dựa trên cơ sở nguyên tắc đã được định sẵn nhằm đạt được mục đích, mục tiêu của quản lý.
Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra từ trước. Nó là yếu tố thiết yếu quan trọng, vì vậy quản lý không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội càng phát triển cao thì vai trò quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp.