Chương 1 Chương này đã trình bày khá đầy đủ, cụ thể cơ sở lý luận để triển khai thực hiện chính sách BĐG. Đây là nền móng để tiến hành thực thi chính sách, chính sách có hiệu quả hay không, một phần cũng phụ thuộc vào hệ thống cơ sở lý luận hoàn thiện. Ở nội dung này, luận văn cũng đã nêu rõ và phân tích các nội dung ảnh hưởng, chi phối đến việc thực hiện chính sách BĐG. Đây là cơ sở để phân tích thực trạng và tìm ra giải pháp để thực hiện chính sách BĐG tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
17 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 2. Nhân tố vị trí, địa lý Thị xã Điện Bàn nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Nam, có diện tích tự nhiên 214,47 km2, có tọa độ địa lý từ 15040’ - 15057’ vĩ độ Bắc, từ 108000’ - 108020’ kinh độ Đông. Ranh giới hành chính của thị xã được xác định: Phía Đông: Giáp Biển Đông và thành phố Hội An; Phía Tây: Giáp huyện Đại Lộc; Phía Nam: Giáp huyện Duy Xuyên; Phía Bắc: Giáp huyện Hòa Vang và quận Cẩm Lệ, quận Ngũ Hành Sơn –thành phố Đà Nẵng.
Toàn thị xã có 20 đơn vị hành chính, trong đó có 7 phường và 13 xã, phường Vĩnh Điện là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội của thị xã. Nhân tố kinh tế Kinh tế Thị xã Điện Bàn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất nền kinh tế ước đạt 23.462 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2017 (tính theo giá 2010). Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn ước thực hiện 2.675 tỷ đồng, tăng 115,59% so với năm 2017.Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tác động tích cực đến cơ cấu lao động, tỷ trọng lao động phi nông nghiệp tăng, chiếm 82,5%, lao động nông nghiệp còn 17,5%. Sản xuất công nghiệp: Tiếp tục thực hiện Kế hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2016-2020; tạo môi trường thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, các doanh nghiệp như: Nhà máy bia Heniken Việt Nam, nhà máy nước giải khát Pepsi, gạch không nung. tiếp tục tạo giá trị lớn trong sản xuất ngành công nghiệp; giá 18 trị cả năm đạt 13.844 tỷ đồng, tăng 8,6% so với năm 2017; trong đó, công nghiệp địa phương đạt 2.567 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Kinh tế nông nghiệp trong những năm qua luôn giữ được tăng trưởng ổn định, hoàn thành kế hoạch sản xuất đề ra; giá trị sản xuất cả năm ước đạt 1.585 tỷ đồng, tăng 3% so với năm 2017. Tổng diện tích gieo trồng cả năm trên 20.633,7 ha, giảm 37,4% so với năm 2017 nhưng giá trị sản xuất bình quân tăng 3 triệu/ha so với năm 2017, ước đạt 119 triệu/ha canh tác.
Ngành chăn nuôi phát triển tương đối ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so cùng kỳ năm trước. Tổng đàn gia súc ước đạt 98.324 con, so với cùng kỳ năm trước, tăng 991 con; tổng đàn gia cầm có 1.410 con so với năm 2017. Sản lượng nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản ước đạt gần 3.440 tấn, đạt 95,8% KH. Kinh tế vườn, kinh tế trang trại phát triển ổn khá tốt, toàn thị xã có 66 trang trại với tổng diện tích 35,5 ha đạt tiêu chuẩn theo quy định; doanh thu bình quân đạt 4,5 tỷ đồng/trang trại/năm.