phần mở đầu, mục lục, các danh mục bảng, hình ảnh, phụ lục thì kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về du lịch;hoạt động kinh doanh du lịch và quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh du lịch; Chƣơng 2: Thực trạngphát triểndu lịch và quản lý nhà nƣớc về hoạt độngkinh doanh du lịch tại Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Chƣơng 3: Giải pháp nâng caoquản lý nhà nƣớc đối với hoạt độngkinh doanh du lịch trên địa bàn Thành phố Châu Đốc; Cuối cùng là những kết luận rút ra của tác giả trong nghiên cứu này. 5 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH, HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCHVÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀKINH DOANH DU LỊCH 1. Du lịch là gì? Theo Tổ chức du lịch Thế giới(World Tourist Organization), du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những ngƣời du hành, tạm trú vì mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; hành nghề,…trong thời gian liên tục nhƣng không quá một năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ nhƣng không vì mục đích chính là kiếm tiền. Nói khác đi du lịch là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trƣờng sống khác hẳn nơi định cƣ.
Theo Luật du lịch Việt Nam(Số 09/2017/QH14), “du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác(Luật du lịch VN, 2017). Từ các định nghĩa trên,nói chung du lịch có thể hiểu là tất cả các mối quan hệ, các hoạt động liên quan đến chuyến đi và lƣu trú của con ngƣời ở ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, khám phá, nghỉ dƣỡng, chữa bệnh, giải trí, phát triển thể chất và tinh thần kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa trong một khoảng thời gian nhất định. Hoạt động du lịch Cũng nhƣ khái niệm du lịch, cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động du lịch. Trƣớc đây, ngƣời ta chỉ quan niệm hoạt động du lịch là một hoạt động mang tính chất văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết của con ngƣời, hoạt động du lịch không đƣợc coi là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít đƣợc đầu tƣ phát triển.
Ngày nay, khi du lịch đƣợc nhiều quốc gia 6 trên thế giới xem là một ngành kinh tế quan trọng thì quan niệm về hoạt động du lịch đƣợc hiểu một cách đầy đủ hơn. Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch ở Việt Nam thời gian một vài thập kỷ gần đây, Luật Du lịch do Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14-6-2005 đƣa ra khái niệm hoạt động du lịch nhƣ sau: "Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cƣ và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch" [36, tr. Với cách tiếp cận này, hoạt động du lịch đƣợc nhìn nhận ở ba khía cạnh: Thứ nhất, “hoạt động của khách du lịch” nghĩa là việc di chuyển và lƣu trú tạm thời của ngƣời đi du lịch đến một nơi ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ để tham quan, nghỉ dƣỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật. Thứ hai, “tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch”, tức là những ngƣời hoạt động tổ chức lƣu trú, phục vụ ăn uống, hƣớng dẫn tham quan, vận chuyển đƣa đón du khách, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khác.
nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thứ ba, “cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”, tức là cơ quan nhà nƣớc và các tổ chức có liên quan tại địa phƣơng du lịch tổ chức quản lý, điều phối, phục vụ hoạt động của “khách du lịch” và “tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh du lịch” nhằm đảm bảo cho các đối tƣợng này thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia HĐDL theo đúng luật định. Hoạt động kinh doanh du lịch Về bản chất, hoạt động kinh doanh du lịch là tổng hòa mối quan hệ giữa các hiện tƣợng kinh tế với kinh tế của hoạt động du lịch. Kinh doanh du lịch vận hành trên cơ sở lấy tiền tệ làm môi giới để trao đổi sản phẩm giữa du kháchvà ngƣời kinh doanh.Sự vận hành này lấy mâu thuẫn trong quá trình vận động giữa cung cấp và nhu cầu du lịch làm đặc trƣng chủ yếu.
Khác với các loại hàng hóa thông thƣờng,trong du lịch sản phẩm hàng hóa không phải là vật cụ thể, cái du khách có đƣợc đó là sự cảm giác, thể nghiệm hoặc hƣởng thụ, do đó giao lƣu hàng hóa và giao lƣu vật tách rời nhau. Trao đổi sản 7 phẩm trong du lịch không làm thay đổi quyền sở hữu, không xảy ra sự chuyển dịch sản phẩm, du khách chỉ có quyền chiếm hữu tạm thời tại nơi du lịch. Cùng một sản phẩm du lịch có thể bán đƣợc nhiều lần cho nhiều du khách, sản phẩm du lịch chỉ tạm thời chuyển dịch quyền sử dụng, còn quyền sở hữu vẫn nằm trong tay ngƣời kinh doanh, đây chính là đặc điểm cơ bản của kinh doanh du lịch.(Nguồn: http://www.vn/khai-niem-ve-kinh-doanh-du-lich/). Vai trò của du lịch.Đối với sự phát triển kinh tế.
Đối với các quốc gia, đặc biệt những quốc gia có tiềm năng về du lịch, kinh doanh du lịch đã và đang đóng góp một phần đáng kể trong tăng trƣởng kinh tế và trong tổng sản phẩm quốc nội(GDP). Thực tiễn cũng cho thấy, du lịch là một ngành có hiệu quả kinh tế cao, vốn đầu tƣ ít và khả năng thu hồi vốn nhanh, đồng thời góp phần giữ gìn, tôn tạo, phát triển những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của quốc gia,thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề khác, góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của vùng, miền và quốc gia, Cụ thể: - Đối với sản xuất – xuất khẩu: Việc mở cửa, thu hút nhiều khách du lịch là một trong những phƣơng thức xuất khẩu tại chỗ, đạt nguồn thu ngoại tệ lớn với hiệu quả cao, thông qua các cửa hàng miễn thuế tại sân bay, bến cảng. Phát triển du lịch còn giúp duy trì và củng cố và phát triển các làng nghề truyền thống, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động và cải thiện đời sống cho ngƣời dân địa phƣơng. - Đối với thu hút vốn đầu tƣ: đặc biệt đầu tƣ nƣớc ngoài vào phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động kinh doanh.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tƣ trong ngành du lịch thƣờng cao nên có khả năng thu húttốt vốn đầu tƣ. Thông qua đầu tƣ, sử dụng lao động đặc biệt nhu cầu khá lớn. Đây cũng là phƣơng thức hữu hiệu để giải quyết nạn thất nghiệp. - Đối với giao thông vận tải: du lịch phát triển kéo theo nhu cầu thúc đẩy phát triển các hệ thống giao thông kết nối giữa các vùng miền và các phƣơng tiện vận 8 chuyển hành khách và hàng hoá.
Giao thông càng thuận lợi sẽ tạo động lực thúc đẩy nhu cầu du lịch nhiều hơn và ngƣợc lại. - Đối vớicông nghệ thông tin: cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng thông tin, truyền dẫn cũng phải phát triển theo tƣơng xứng để đáp ứng nhu cầu dịch vụ nhiều mặt của khách du lịch. Công nghệ thông tin và viễn thông càng phát triển sẽ thúc đẩy nhu cầu du lịch càng cao và ngƣợc lại. - Đối với vấn đề đô thị hóa: phát triển đô thị hóa tạo nên cơ sở hạ tầng chung cho nền kinh tế đồng thời cũng cung cấp thêm tài nguyên nhân tạo cho ngành du lịch.
Ngƣợc lại việc phát triển du lịch sẽ kích thích các ngành nghề có liên quan phát triển làm thay đổi nhanh chóng cảnh quan thiên nhiên đô thị, gia tăng nguồn thu ngân sách, giúp tăng thêm đầu tƣ và đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Nói chung, hoạt động kinh doanh du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế của một đất nƣớc, một vùng, một địa phƣơng. Thông qua tiêu dùng, du lịch tác động mạnh lên lĩnh vực lƣu thông và do đó gây ảnh hƣởng lớn lên những lĩnh vực khác của quá trình tái sản xuất xã hội. Qua đó, du lịch có ảnh hƣởng tích cực lên sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp và nông nghiệp.
Tuy nhiên, du lịch cũnglà ngành đòi hỏi hàng hóa phải có chất lƣợng cao, phong phú về chủng loại, mỹ thuật và hình thức. Vì vậy, phát triển du lịch sẽ góp phần định hƣớng cho sự phát triển của các ngành kinh tế trên các mặt: số lƣợng, chất lƣợng, chủng loại sản phẩm và chuyên môn hóa trong sản xuất, kinh doanh.Đối với đời sống xã hội Du lịchlà nguồn lực quan trọng cho tăng trƣởng, tạo việc làm và tăng thu nhập, qua đó đóng góp đáng kể vào tăng trƣởng kinh tế và tác động đến an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO), có 3 loại tác động của du lịch đối với ngƣời nghèo đó là : 1) tăng thêm thu nhập cho ngƣời nghèo; 2) phát triển kinh tế địa phƣơng, nông thôn và sinh kế của ngƣời nghèo;3) tác độngđến môi trƣờng tự nhiên và văn hóa của ngƣời nghèo(ILO, 2012). 9 Du lịch Chuỗi cung, ngành liên quan Thu nhập Thu nhập Bán hàng Hộ gia đình nghèo Việc làm Hình 1.Mối quan hệ giữa du lịch với ngƣời nghèo, thu nhập thấp *Nguồ n: ILO - Bộ Công cụ hướng dẫn giảm nghèo thông qua du lịch, 2012.
Theo đó khi ngƣời thu nhập thấp tham gia cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch là họ đã tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch. Đồng thời, họ có thể làm việc trong khách sạn, nhà hàng, bán hàng thủ công mỹ nghệ, kéo xe hoặc chèo thuyền cho khách du lịch, hoặc tổ chức lƣu trú tại địa phƣơng.