CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm nông nghiệp Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên : “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp các sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi” [14, tr 740]. Trong tác phẩm Kinh tế Nông nghiệp – lý thuyết và thực tiễn, tác giả Đinh Phi Hồ quan niệm “ Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với những yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có : trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản” [ 9, tr 5]. Theo đó, kinh tế nông nghiệp bao gồm : Trồng trọt : là ngành sử dụng đất đai với cây trồng làm đối tượng chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho công nghiệp và thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan. Chăn nuôi : là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) với đối tượng là các loại động vật nuôi. Đây là ngành cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm như thịt, trứng, sữa; cung cấp da, len, lông; sản phẩm của chăn nuôi dùng làm phân bón; gia súc dùng làm sức kéo.
Lâm nghiệp : là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng, khai thác vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng. Trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác động phòng hộ của rừng. Ngư nghiệp : bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong đó đánh bắt là hoạt động lâu đời nhằm cung cấp thực phẩm cho chính mình thông qua các hình thức đánh bắt cá và các thủy sinh vật khác [22 tr24,25]. Tóm lại, Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Khái niệm phát triển nông nghiệp Theo Tạp chí nghiên cứu kinh tế nông nghiệp, số 215, tháng 10 năm 2016 của 7 Thạc sĩ Đinh Trọng Giáp “Phát triển nông nghiệp là một quá trình chịu sự tác động của quy luật thị trường, chính sách, ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp”. Theo Quyết định số 153/2004/QĐ – TTg ngày 17/8/2004 của thủ tướng Chính phủ về “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) chỉ rõ “Phát triển nông nghiệp là quá trình sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa theo yêu cầu của thị trường, phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên : đất, nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học” [6, tr 10]. Tóm lại, Phát triển nông nghiệp là quá trình lớn lên ( hay tăng tiến ) về mọi mặt của nền kinh tế nông nghiệp trong một thời kì nhất định.
Phát triển nông nghiệp theo những khía cạnh sau : Phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp; Phát triển phân công lao động trong nông nghiệp; Nâng cao dân trí; Giải quyết tốt vấn đề môi trường. Phát triển nông nghiệp thể hiện cả về lượng và về chất. Phát triển nông nghiệp không những bao gồm cả sự tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền nông nghiệp, sự thích ứng của nông nghiệp với bối cảnh mới, sự tham gia của người dân trong quản lý và sử dụng nguồn lực, sự phân bổ của cải, tài nguyên của các nhóm dân cư trong nội bộ nông nghiệp và giữa ngành nông nghiệp với các ngành kinh tế khác. Khái niệm quản lý Trong giáo trình Quản lý nhà nước về Thương mại của tác giả Thân Danh Phúc (2015) có đưa ra quan niệm : Quản lý là một hiện tượng khách quan trong mọi hình thái kinh tế xã hội.
Nó xuất hiện là tính tất yếu do lao động mang tính tập thể và các hoạt động mang tính cộng đồng, xã hội quyết định. Các Mác chỉ rõ “Bất kì lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó được tiến hành trên quy mô lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần có sự quản lý nhằm phối hợp những hoạt động tác nhân và thực hiện những chức năng chung”. Ông đã hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng “Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc cần có người nhạc trưởng”[1] Có nhiều cách trình bày, diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý, nhưng theo như cách tiếp cận của đề tài có thể theo 2 cách sau : Tiếp cận thứ nhất : Quản lý là một quá trình trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào đối tượng quản lý nhằm đạt kết quả tốt nhất theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý thích hợp. Tiếp cận thứ hai : Quản lý được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố : đầu 8 vào, đầu ra, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu của quản lý.
Các yếu tố trên tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt, chúng đặt ra những yêu cầu, những vấn đề quản lý cần giải quyết. Mặt khác, chúng ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả quản lý. Khái niệm quản lý nhà nước Theo Thạc sĩ Vũ Đình Trọng trong luận văn “Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam” có đưa ra khái niệm như sau : “Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước”. Theo Tiến sĩ Thân Danh Phúc tác giả cuốn sách Quản lý Nhà nước về Thương Mại thuộc trường Đại học Thương Mại đã đưa ra Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước [2] và các mục tiêu đã xác định trong từng giai đoạn của đất nước. Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng được thực hiện thông qua hoạt động của cả 3 cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước được giới hạn ở hoạt động quản lý có tính chất nhà nước được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (chính phủ) nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội đã đặt ra.
Quản lý nhà nước có đặc điểm là hoạt động mang quyền lực nhà nước thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước; QLNN là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp và QLNN là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ. Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp Theo quan điểm của Thạc sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp như sau: “Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp hướng mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất các các lĩnh vực sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng các 9 sản phẩm nông nghiệp; điều tiết lợi ích giữa các vùng, các ngành, các sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội”. Trong phạm vi của đề tài, có tổng kết lại Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp là hoạt động sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của hệ thống cơ quan nhà nước tại địa bàn một huyện cụ thể đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, chuyên môn của ngành nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài huyện nhằm đạt mục tiêu xác định hiệu quả nhất. Một số lỹ thuyết liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp 1.
Đặc điểm quản lý nhà nước về nông nghiệp Thứ nhất, quản lý nhà nước về nông nghiệp là những hoạt động dựa trên pháp luật và quyền lực của nhà nước: tính quyền lực của nhà nước được xem là yếu tố nhằm giúp chúng ta phân biệt được quản lý nhà nước cũng như các hoạt động quản lý mang tính xã hội khác. Quyền lực của nhà nước được thể hiện rõ ràng nhất thông qua các văn bản hành chính về nông nghiệp, các văn bản này thể hiện được những ý chí và quyết tâm của người quản lý nhà nước.