Luận văn: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về kinh doanh ngành in ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in tại Việt Nam. Nghiên cứu chuyên sâu, giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Nguyễn Kiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước ngành in và vai trò cốt lõi

Ngành in đóng vai trò thiết yếu trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Hoạt động này sản xuất ra các ấn phẩm phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến tri thức và phát triển thương mại. Tuy nhiên, đây là một ngành kinh doanh có điều kiện, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ. Do đó, công tác quản lý nhà nước về hoạt động in giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Mục tiêu chính là đảm bảo ngành in phát triển đúng định hướng, hài hòa giữa nhiệm vụ chính trị và mục tiêu kinh tế. Quản lý nhà nước giúp ngăn chặn các hành vi tiêu cực như in lậu, in sản phẩm độc hại, hay in giả giấy tờ, tem chống giả. Một hệ thống quản lý hiệu quả sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp ngành in, đồng thời bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Các cơ quan quản lý nhà nước, từ trung ương đến địa phương, có trách nhiệm xây dựng hành lang pháp lý, thực thi chính sách và kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở in. Nền tảng pháp lý cho hoạt động này bao gồm Luật Xuất bản và các nghị định liên quan, tiêu biểu là Nghị định 60/2014/NĐ-CP. Việc nâng cao năng lực quản lý không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của toàn ngành trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số ngành in đang diễn ra mạnh mẽ.

1.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động kinh doanh ngành in

Hoạt động kinh doanh ngành in được định nghĩa là hoạt động sản xuất, kinh doanh có điều kiện. Theo luận văn của Nguyễn Kiên (2014), các tổ chức và cá nhân phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tuân thủ các quy định về an ninh, trật tự. Đặc điểm nổi bật của ngành là sự đa dạng về mô hình, từ doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân đến các cơ sở in sự nghiệp công lập. Hoạt động in được chia thành hai dạng chính: hoạt động cần giấy phép chuyên ngành (in xuất bản phẩm, báo, tạp chí, tem chống giả) và hoạt động không cần giấy phép chuyên ngành (in bao bì, nhãn hàng hóa). Đặc thù này tạo ra sự phức tạp trong quản lý, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có phương pháp tiếp cận linh hoạt và hiệu quả để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp ngành in.

1.2. Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành

Chủ thể chính thực hiện quản lý nhà nước ngành in là Chính phủ. Trực tiếp thực hiện chức năng này là Bộ Thông tin và Truyền thông, cụ thể là Cục Xuất bản, In và Phát hành. Tại địa phương, Sở Thông tin và Truyền thông được phân cấp một số nhiệm vụ quản lý. Vai trò của các cơ quan này là xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển; ban hành văn bản quy phạm pháp luật; cấp và thu hồi giấy phép; đào tạo chuyên môn; và thực hiện công tác thanh tra ngành in. Theo nghiên cứu, hiệu quả quản lý phụ thuộc rất lớn vào năng lực của đội ngũ cán bộ, từ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn đến kỹ năng vận dụng các phương pháp quản lý. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý là yếu tố then chốt để tạo ra một hệ thống quản lý đồng bộ và hiệu quả.

II. Top thách thức trong công tác quản lý nhà nước ngành in

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác quản lý nhà nước ngành in vẫn đối mặt với không ít thách thức. Luận văn của Nguyễn Kiên (2014) chỉ ra rằng, sự bùng nổ về số lượng cơ sở in sau khi các quy định được nới lỏng đã dẫn đến tình trạng cung vượt cầu và cạnh tranh gay gắt. Hệ thống pháp luật dù đã được cải thiện nhưng vẫn tồn tại những kẽ hở, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm. Một trong những vấn nạn nhức nhối nhất là in lậu xuất bản phẩm, in giả giấy tờ, bao bì, gây thiệt hại lớn cho xã hội và các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Việc kiểm soát nhập khẩu thiết bị cũ, lạc hậu còn lỏng lẻo, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và môi trường. Thêm vào đó, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ở một số địa phương còn hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ in ấn. Các thủ tục hành chính ngành in đôi khi còn rườm rà, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa thực sự đồng bộ, dẫn đến chồng chéo hoặc bỏ trống trong quản lý. Giải quyết những thách thức này đòi hỏi một chiến lược tổng thể, kết hợp giữa hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi.

2.1. Bất cập từ hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính

Một trong những rào cản lớn nhất đến từ chính hành lang pháp lý. Trước khi Nghị định 60/2014/NĐ-CP ra đời, hoạt động in được điều chỉnh bởi hai khung pháp lý không thống nhất, gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Tài liệu nghiên cứu cho thấy các quy định về hồ sơ, thủ tục cấp phép còn đơn giản, dễ dãi, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều cơ sở in "ảo" nhằm mục đích bất hợp pháp. Các quy định trong Luật Xuất bản chưa bao quát hết các tình huống thực tế, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số ngành in. Công tác cải cách hành chính dù được đẩy mạnh nhưng vẫn cần được thực hiện triệt để hơn để giảm bớt gánh nặng cho các doanh nghiệp ngành in.

2.2. Vấn nạn in lậu in giả và khó khăn trong kiểm soát

Tình trạng in lậu, in trái phép ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp. Các đối tượng vi phạm thường sử dụng công nghệ in ấn hiện đại để sản xuất các ấn phẩm giả, từ sách, báo, tem chống giả đến bao bì sản phẩm. Việc này không chỉ vi phạm bản quyền, gây thất thu thuế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, kinh tế và sức khỏe người tiêu dùng. Luận văn chỉ rõ, một trong những nguyên nhân là do thiếu công cụ và chế tài đủ mạnh để răn đe. Công tác thanh tra ngành inxử lý vi phạm hành chính gặp nhiều khó khăn do các cơ sở vi phạm hoạt động tinh vi, thường xuyên thay đổi địa điểm. Việc quản lý các cơ sở in không thuộc diện cấp phép gặp nhiều bất cập, cơ quan chức năng không nắm được địa chỉ và hoạt động của họ.

III. Phương pháp hoàn thiện thể chế chính sách quản lý ngành in

Để nâng cao hiệu quả quản lý, giải pháp nền tảng là hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách. Đây là bước đi chiến lược nhằm tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch, công bằng và phù hợp với thực tiễn. Trọng tâm của giải pháp này là rà soát, sửa đổi và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật Xuất bản và các nghị định hướng dẫn. Cần thống nhất các quy định về điều kiện hoạt động, tiêu chuẩn kỹ thuật thiết bị, và quy trình cấp phép để loại bỏ các cơ sở in "ảo", không đủ năng lực. Việc xây dựng một chính sách phát triển ngành in rõ ràng, có tầm nhìn dài hạn sẽ định hướng cho các doanh nghiệp đầu tư đúng hướng, tránh lãng phí nguồn lực. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cải cách hành chính, đơn giản hóa các thủ tục hành chính ngành in thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia đóng góp ý kiến từ các chuyên gia, doanh nghiệp ngành inHiệp hội in Việt Nam để đảm bảo các chính sách khi ban hành thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

3.1. Cải cách hành chính và đơn giản hóa thủ tục cấp phép

Đẩy mạnh cải cách hành chính là yêu cầu cấp bách. Cần rà soát toàn bộ các thủ tục liên quan đến hoạt động in, từ đăng ký kinh doanh, cấp phép hoạt động đến đăng ký sản phẩm. Mục tiêu là loại bỏ các giấy tờ, thủ tục không cần thiết, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Việc ứng dụng chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cho các thủ tục như cấp phép, báo cáo định kỳ sẽ là một bước đột phá. Điều này không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn giúp cơ quan quản lý nhà nước giám sát hoạt động hiệu quả hơn thông qua một hệ thống dữ liệu tập trung, minh bạch.

3.2. Sửa đổi Luật Xuất bản và các nghị định liên quan

Hệ thống pháp luật cần được cập nhật để theo kịp sự thay đổi của ngành. Luật Xuất bản và các nghị định như Nghị định 60/2014/NĐ-CP cần được rà soát định kỳ. Các nội dung cần tập trung sửa đổi bao gồm: quy định rõ ràng hơn về quản lý xuất bản phẩm điện tử, chế tài xử phạt đủ sức răn đe đối với hành vi in lậu, và các tiêu chuẩn kỹ thuật cho việc nhập khẩu thiết bị in. Việc luật hóa các quy định quản lý đối với các sản phẩm in không phải xuất bản phẩm nhưng có ảnh hưởng lớn đến xã hội (như bao bì dược phẩm, hóa đơn) cũng là một yêu cầu cần thiết để bịt các lỗ hổng pháp lý.

IV. Hướng dẫn nâng cao hiệu quả quản lý ngành in thời đại 4

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, việc áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại là yếu tố quyết định để nâng cao hiệu quả quản lý. Trong kỷ nguyên số, chuyển đổi số ngành in không chỉ là xu hướng của doanh nghiệp mà còn là yêu cầu bắt buộc đối với các cơ quan quản lý. Cần xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động in, tích hợp thông tin về các cơ sở in, thiết bị, sản phẩm và các vi phạm đã xử lý. Hệ thống này sẽ là công cụ đắc lực cho Bộ Thông tin và Truyền thông và các Sở Thông tin và Truyền thông trong việc hoạch định chính sách và thực hiện thanh tra ngành in. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ. Các chương trình đào tạo cần cập nhật kiến thức về pháp luật, công nghệ in ấn mới, và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Sự kết hợp giữa con người và công nghệ sẽ tạo ra một phương thức quản lý thông minh, linh hoạt và chủ động hơn trong việc phát hiện và xử lý vi phạm hành chính.

4.1. Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hoạt động in

Giải pháp cốt lõi là xây dựng hệ thống phần mềm quản lý tập trung. Hệ thống này cho phép các doanh nghiệp ngành in thực hiện khai báo, đăng ký hoạt động, và nộp báo cáo trực tuyến. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống sẽ tự động tổng hợp dữ liệu, cảnh báo những dấu hiệu bất thường, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc sản phẩm in. Việc áp dụng các công nghệ như mã QR, blockchain để quản lý các sản phẩm nhạy cảm như tem chống giả, hóa đơn, hay quản lý xuất bản phẩm sẽ giúp ngăn chặn hiệu quả tình trạng làm giả, in lậu. Chuyển đổi số ngành in trong công tác quản lý sẽ giảm thiểu sự can thiệp thủ công, tăng tính minh bạch và hiệu quả.

4.2. Tăng cường thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Hoạt động thanh tra ngành in cần được đổi mới theo hướng chủ động và dựa trên phân tích rủi ro từ dữ liệu. Thay vì kiểm tra dàn trải, cơ quan quản lý sẽ tập trung vào các cơ sở có nguy cơ vi phạm cao. Cần xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng như quản lý thị trường, công an, hải quan để tạo sức mạnh tổng hợp trong việc đấu tranh với in lậu. Các chế tài xử lý vi phạm hành chính phải được áp dụng nghiêm minh, công khai thông tin các đơn vị vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng để tăng tính răn đe. Đồng thời, cần có cơ chế khen thưởng, khuyến khích các tổ chức, cá nhân phát hiện và tố giác các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động in.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh ngành in ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà nƣớc về hoạt động kinh doanh ngành in. Thực trạng năng lực quản lý nhà nƣớc về hoạt động kinh doanh ngành in ở Việt Nam giai đoạn 2008-2013. Một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc về hoạt động kinh doanh ngành in trong giai đoạn tới.

6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH IN 1. Khái quát chung về sự hình thành của ngành in: 1. Lịch sử ngành in và các công nghệ in: 1.

Khái quát về lịch sử ngành in thế giới: In ấn bắt đầu xuất hiện và phát triển đầu tiên ở Trung Quốc. Kĩ thuật in khối dùng gỗ sơ khai đã bắt đầu phổ biến ở thế kỉ thứ 6. Sách cổ nhất đƣợc in còn tới ngày nay sử dụng kĩ thuật in khối tinh vi có từ năm 868 SCN (kinh Kim Cƣơng). Đến thế kỉ thứ 12 và 13, các thƣ viện ở Ả Rập và Trung Quốc đã có tới hàng chục nghìn bản sách.

Sự phát triển của in ấn là một bƣớc đột phá trong phổ biến tri thức: nhà in đã đƣợc dựng lên ở Venice năm 1469 và tới năm 1500 thành phố này đã có tới 417 thợ in. Năm 1470, Johann Heynlin lập nhà in ở Paris. Năm 1476, nhà in đƣợc lập ở Anh quốc bởi William Caxton; năm 1539, một ngƣời Ý tên là Juan Pablos đã lắp đặt một nhà in đƣợc nhập về ở Thành phố Mexico, Mexico. Stephen Day xây dựng nhà in đầu tiên của Bắc Mĩ ở vịnh Massachusetts năm 1628, và là ngƣời góp phần lập nên nhà xuất bản Cambridge.

Máy in dùng kỹ thuật offset và thạch bản đầu tiên ra đời ở Anh khoảng năm 1875 và đã đƣợc thiết kế để in lên kim loại. Trống offset làm bằng giấy các tông truyền hình ảnh cần in từ bản in thạch bản sang bề mặt kim loại. Khoảng 5 năm sau, giấy các tông đƣợc thay bằng cao su. Ngƣời đầu tiên áp dụng kỹ thuật in offset cho in ấn trên giấy có thể là Ira Washington Rubel năm 1903.

Ông đã tình cờ nhận thấy mỗi khi một tờ giấy không đƣợc đƣa vào máy in thạch bản của ông một cách đúng nhịp, bản in thạch bản in lên trống in đƣợc bọc bằng cao su, và tờ giấy cho vào tiếp theo bị dính 2 hình: bản in thạch bản ở mặt trên và bản in do dính từ trống in ở mặt dƣới. Rubel 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng nhận thấy hình ảnh in từ trống in cao su nét và sạch hơn vì miếng cao su mềm áp đều lên giấy hơn là bản in bằng đá cứng. Ông đã quyết định in thông qua các tấm bằng cao su. Độc lập với Rubel, hai anh em Charles Harris và Albert Harris cũng đã phát hiện ra điều này và chế tạo máy in offset cho Công ty In ấn Tự động Harris.

Các thiết kế của Harris, phát triển từ máy in gồm các trống quay, rất giống hình vẽ trong bài. Nó gồm một trống bản in tiếp xúc chặt với các cuộn mực in và nƣớc. Một trống cao su tiếp xúc ngay bên dƣới trống xếp chữ. Trống in ở bên dƣới có nhiệm vụ ấn chặt tờ giấy vào trống cao su để truyền hình ảnh.

Ngày nay, cơ chế cơ bản này vẫn đƣợc dùng, nhƣng nhiều cải tiến đã đƣợc thực hiện, nhƣ thêm in hai mặt hay nạp giấy bằng cuộn giấy (thay vì các miếng giấy). Trong những năm 1950, in offset trở thành kỹ thuật in phổ biến nhất cho in ấn thƣơng mại, sau khi nhiều cải tiến đã đƣợc thực hiện cho bản xếp chữ, mực in và giấy, tối ƣu hóa tốc độ in và tuổi thọ các bản xếp chữ. Ngày nay, đa số in ấn, gồm cả in báo chí, sử dụng kỹ thuật này. Ở khâu sau in các máy móc, thiết bị có hệ thống điện tử tự động, cài đặt chƣơng trình đƣợc sử dụng.

Đã có hàng loạt máy liên hợp đóng sách, các loại máy gia công sản phẩm khác nhau nhƣ máy bế, dán, máy đóng dán bao bì liên tục, máy gấp, máy khâu, máy vô bìa keo, máy nhủ vàng, bạc…Kỹ thuật máy tính xuất hiện đã làm đảo lộn hoàn toàn ngành công nghiệp in trên toàn thế giới. Trong những năm 90 của thế kỷ 20, ngành in đã có những phát triển công nghệ quan trọng. Ở thời điểm này, một đặc điểm của công nghệ in đáng chú ý là sự liên kết giữa 3 công đoạn trong kỹ thuật in là trƣớc in – in – sau in, nổi bậc là kỹ thuật “Computer-to” và các nguyên vật liệu mới phục vụ cho kỹ thuật này. Cùng với công nghệ in ấn bằng kĩ thuật in ốp sét – offset, hiện nay các kĩ thuật in phổ biến khác gồm in nổi (dùng chủ yếu trong các cuốn Catalogue), in 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lụa, in quay, in phun và in laser.

Nhà in thƣơng mại và công nghiệp lớn nhất trên thế giới là Montreál, ở Quebec, Quebecor World. In kĩ thuật số phần lớn sử dụng hiện tƣợng tĩnh điện để chuyển mực in lên trên chất liệu in. Công nghệ này phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây với các sản phẩm đa dạng từ các máy sao chép (copier) màu hay đen trắng cho tới các máy in màu hiện đại nhƣ Xerox iGen3-4, Kodak Nexpress, hay loạt máy HP Indigo. iGen3 và Nexpress sử dụng trống mực còn Indigo dùng mực lỏng.

Lịch sử hình thành in ấn tại Việt Nam: Nghề in bản gỗ khắc ra đời ở kinh thành Thăng Long từ thời nhà Lý cách nay hơn 800 năm. Đến thế kỷ XV, dƣới triều Lê sơ, Thị lang bộ Lễ kiêm Bí thƣ giám học sinh Lƣơng Nhƣ Học, từng hai lần đi sứ sang Trung Quốc đã nghiên cứu thêm kỹ thuật in khắc gỗ về dạy nghề cho dân làng quê ông ,từ đó ông đƣợc tôn thờ làm tổ sƣ nghề in. Giữa thế kỷ XIX, khi Pháp xâm chiếm Sài Gòn và du nhập kỹ thuật in ty pô, nghề in bản gỗ khắc vẫn tiếp tục đƣợc sử dụng vì bấy giờ chữ quốc ngữ la tinh chƣa phổ biến rộng rãi. Nghề in chữ đúc (typô) đầu tiên du nhập vào Việt Nam năm 1861 tại Sài Gòn sau đội quân xâm lƣợc của đô đốc Pháp Bonard.

Xƣởng in này đƣa từ Paris sang, gồm máy, chữ, mực, giấy và 4 công nhân Pháp. Những thập niên đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ phổ biến mạnh hơn trƣớc, công việc dịch thuật, sáng tác văn học nhiều thể loại rất phong phú đã kích thích mở rộng thị trƣờng sách báo quốc ngữ, đòi hỏi một sự phát triển đột biến của ngành in, nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Cùng với tƣ bản Pháp, nhiều nhà tƣ sản Việt, Hoa ở Sài Gòn đã sớm chen chân kinh doanh trên lĩnh vực này nhƣ: Phát Toán (1909) J. Nguyễn Văn Viết et fils (1922), Á Đông - Chợ Lớn (1923), Quan Đồng Âm - Chợ Lớn (1923), Xƣa nay (1926), Bảo tồn (1927) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu trong hai thập niên đầu thế kỷ chỉ có khoảng 20 nhà in đăng ký hành nghề thì hai thập niên kế đó (1920-1940), con số này tăng gấp 4 lần, lên tới gần 80 cơ sở, tuy rằng nhiều nhà in chỉ sống một vài năm rồi đóng cửa hoặc sáp nhập vào các cơ sở khác.

Theo tƣ liệu lƣu trữ, đầu năm 1937, toàn Đông Dƣơng có 88 nhà in đang hoạt động in đƣợc sách báo. Riêng Sài Gòn đã có 28 nhà in, trong đó có tới 18 cơ sở mang tên Việt, Hoa (chiếm trên 60%), tuy năng lực và kỹ thuật in kém nhiều so với các nhà in của tƣ bản ngoại quốc. - Giai đoạn 1952-1975: Đây là thời kỳ tạo dựng nền móng, hình thành và từng bƣớc phát triển nền xuất bản cách mạng. Thời kỳ này đã xuất bản đƣợc 31.215 tên sách với 529.

- Giai đoạn 1976-1985: Sau khi đất nƣớc thống nhất, các xuất bản phẩm xuất bản đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế, phản ánh cuộc đấu tranh về sự lựa chọn con đƣờng XHCN. Sau khi đất nƣớc thống nhất, các xuất bản phẩm đã góp phần có hiệu quả trong việc khôi phục và phát triển kinh tế. Số sách xuất bản 22.000 tên sách với 533. - Giai đoạn 1986-2001: Đây là thời kỳ đổi mới đất nƣớc dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các xuất bản phẩm đã góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế.

Tốc độ phát triển của ngành năm sau cao hơn năm trƣớc. Năm 2001, xuất bản, phát hành tăng gấp 3,2 lần về bản; in tăng 4,4 lần về trang in so với năm 1986. - Giai đoạn 2002 - nay: Đây là thời kỳ phát triển vƣợt bậc của ngành xuất bản, các xuất bản phẩm đã phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nƣớc, làm giàu thêm các giá trị văn hoá Việt Nam. Từ những tổ chức nhỏ bé ban đầu ở chiến khu Việt Bắc, hiện nay cả nƣớc đã có 64 nhà xuất bản, khoảng 1.500 cơ sở in và khoảng 13.700 nhà sách, hiệu sách, trung tâm sách…; 119 công ty phát hành sách cấp tỉnh thuộc lĩnh vực thông tin – truyền thông, văn hóa, giáo dục – đào tạo; 75 công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xuất bản phẩm.

10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Công nghệ in ấn và các đặc điểm chính: In ấn là quá trình tạo ra chữ và tranh ảnh trên các chất liệu nền nhƣ giấy, bìa các tông, ni lông, vải. bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thƣờng đƣợc thực hiện với số lƣợng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong xuất bản.

Các phƣơng pháp in ấn cơ bản hiện nay: In offset, flexo, ống đồng. là những khái niệm còn xa lạ đối với rất nhiều ngƣời, tuy nhiên để hiểu những vấn đề cơ bản đó của kỹ thuật in và các phƣơng pháp in chính hiện nay cũng không phải là việc khó khăn. - In typo: Đây là phƣơng pháp in đầu tiên và cổ xƣa nhất, đƣợc phát minh bởi ngƣời Trung Quốc nhƣng ngƣời Đức (Johan Gutenberg) mới là ngƣời đƣợc công nhận là ông tổ ngành in. Về nguyên lý, in typo là phƣơng pháp in cao, tức là trên khuôn in typo, các phần tử in (hình ảnh, chữ viết) nằm cao hơn các phần không in.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ