phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận 7, thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cƣờng hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ văn hóa trên địa bàn quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.1 Quản lý, quản lý nhà nước - Khái niệm quản lý Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Taylor cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó nhƣ thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tính, giáo trình Lý luận chung về quản lý và quản lý giáo dục, tr.Fayon lại cho rằng “Quản lý là đƣa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật, lực) của nó” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tính, giáo trình Lý luận chung về quản lý và quản lý giáo dục, tr. Bên cạnh đó, cũng cần hiểu rằng, quản lý không thuần túy là khái niệm mà là sự kết hợp của 3 phƣơng diện: Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân. Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, giảm mâu thuẫn giữa hai bên.
Thứ ba, tăng cƣờng hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm đƣợc những việc mà một cá nhân không thể làm đƣợc, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể. Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là con ngƣời hoặc tổ chức, chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lý bằng các công cụ với những phƣơng pháp thích hợp theo những nguyên tắc 13 nhất định. Đối tƣợng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý, tùy theo từng loại đối tƣợng khác nhau mà ngƣời ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. Khách thể quản lý: Là đối tƣợng chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con ngƣời, các quá trình xã hội.
Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trƣớc. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng nhƣ lựa chọn các phƣơng pháp quản lý thích hợp. Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc. Tóm lại, quản lý là một hoạt động mang nặng tính tổ chức do con ngƣời thành lập và vận hành theo những cơ chế đặc thù, phụ thuộc vào những chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu đạt đƣợc trong công tác quản lý.
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên quen thuộc trong giới khoa học, và công tác quản lý cũng không còn đơn thuần là một hoạt động thực tiễn mà đã đƣợc nâng lên thành một ngành khoa học gọi là “khoa học quản lý”. Điều đó cho thấy giá trị, ý nghĩa của công tác quản lý đối với cuộc sống ngày nay. - Khái niệm quản lý nhà nước Theo Giáo trình về quản lý nhà nƣớc tập III, Học viện hành chính quốc gia cho rằng: “Quản lý nhà nƣớc là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà nƣớc, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nƣớc trên các phƣơng diện lập pháp, hành pháp và tƣ pháp” [14, tr. Theo cách hiểu này, Nhà nƣớc đặt trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân lao động làm chủ.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nƣớc chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời theo pháp luật nhằm đạt đƣợc 14 những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc. Đồng thời, các cơ quan Nhà nƣớc nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nƣớc nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình, đề bạt, khen thƣởng, kỷ luật, cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ. Quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nƣớc.
Cùng quan điểm này, các tác giả trong cuốn Giáo trình lý luận quản lý hành chính Nhà nƣớc, Học viện hành chính, do Nxb. Khoa học và kỹ thuật ấn hành năm 2003 thì: Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nƣớc và sử dụng pháp luật Nhà nƣớc để điều chỉnh hành vi hoạt động của con ngƣời trên tất cả các mặt đời sống xã hội do các cơ quan bộ máy Nhà nƣớc thực hiện, nhằm thỏa mản nhu cầu của con ngƣời, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [14, tr. Từ khái niệm nền tảng là “Quản lý nhà nƣớc”, có thể hiểu rằng, Quản lý nhà nƣớc đối với các dịch vụ văn hóa là quá trình các cơ quan quản lý nhà nƣớc sử dụng những công cụ pháp luật của mình để tác động nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa phát triển vừa phù hợp với chủ trƣơng, định hƣớng của nhà nƣớc; vừa phù hợp với xu thế phát triển của thị trƣờng văn hóa nghệ thuật hiện nay ở Việt Nam.2 Dịch vụ, dịch vụ văn hóa - Dịch vụ Theo từ điển của Nguyễn Nhƣ Ý xuất bản năm 2013 thì “Dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo dân chúng nhƣ cửa hàng dịch vụ, dịch vụ ăn uống” [49, Tr. Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm 15 các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, có hai cách hiểu về dịch vụ, cách hiểu thứ nhất: Theo nghĩa rộng: dịch vụ đƣợc xem là một ngành kinh tế thứ 3. Với cách hiểu này, tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngoài 2 ngành nông nghiệp và công nghiệp đều đƣợc xem là thuộc ngành dịch vụ. Theo nghĩa hẹp: dịch vụ đƣợc hiểu là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách hàng truớc, trong và sau khi bán. Ngoài ra, còn có cách hiểu thứ hai: Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dƣới hình dạng vật thể.
Ở đây dịch vụ không chỉ bao gồm những ngành truyền thống nhƣ: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thƣơng mại, bao hiểm, bƣu chính viễn thông, mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất mới nhƣ: dịch vụ văn hoá, hành chính, bảo vệ môi trƣờng… Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho ngƣời khác hay cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con ngƣời, nhƣ: vận chuyển, sửa chữa và bảo dƣỡng các thiết bị máy móc hay công trình. Nhƣ vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học; từ hành chính học đến khoa học quản lý. Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau.
- Dịch vụ văn hóa 16 Cho đến nay, vẫn chƣa có một nhà nghiên cứu, hoặc tổ chức khoa học nào đƣa ra đƣợc khái niệm cụ thể, hoàn chỉnh về thuật ngữ “dịch vụ văn hóa”. Tuy nhiên, từ cơ sở khái niệm nền tảng về dịch vụ, chúng ta có thể hiểu, dịch vụ văn hóa là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm dịch vụ thuộc lĩnh vực văn hóa, nhằm thoả mãn các nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của con ngƣời. Nhƣ vậy, dịch vụ văn hóa là một thành tố của ngành kinh tế dịch vụ nói chung. Mức độ phát triển loại hình dịch vụ này ở mỗi quốc gia có nhiều điểm không giống nhau, do những chính sách phát triển văn hóa khác nhau.
Theo tác giả Đỗ Đình Nam trong cuốn Đề cƣơng bài giảng về quản trị dịch vụ văn hóa thì: Dịch vụ văn hóa là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trƣớc nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tƣơng tác với nhau. Mục đích của việc tƣơng tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi cũng nhƣ tạo ra giá trị cho khách hàng” [18, tr. Dịch vụ văn hóa là phải thực hiện những gì mà nhà cung cấp đã thỏa thuận với khách hàng nhằm củng cố, mở rộng những quan hệ đối tác lâu dài. Dịch vụ văn hóa mà đạt đƣợc chất lƣợng sẽ tạo ra nhiều giá trị cho xã hội.
Sản phẩm dịch vụ văn hóa là kết quả của hoạt động sản xuất, sáng tạo các sản phẩm và dịch vụ văn hóa phục vụ kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu. Nó cũng giống nhƣ mọi hàng hóa thông thƣờng khác nhƣng điểm khác biệt lớn nhất đó là ngƣời tiêu dùng nó không theo cách của một hàng hóa bình thƣờng, họ thƣởng thức, chiêm nghiệm và khám phá các giá trị, các nét đặc trƣng của từng quốc gia.