Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VĂN HÓA PHẨM Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm 1. Khái niệm QLNN, QLNN đối với hoạt động văn hóa, QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm 1. Khái niệm quản lý nhà nước Hoạt động QLNN xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước.
QLNN về bản chất là quản lý toàn bộ hoạt động của xã hội, mặc dù nội hàm của QLNN thay đổi ít nhiều khác nhau phụ thuộc vào chế độ chính trị, đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. QLNN bao gồm 3 chức năng [1]: - Chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; - Chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; - Chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện. Mô hình QLNN trong mỗi quốc gia đều có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế…, QLNN có những điểm khác biệt so với quản lý của các tổ chức khác như sau: - Chủ thể QLNN là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền như: cơ quan lập pháp; cơ quan hành pháp; cơ quan tư pháp; - Đối tượng của QLNN là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia; 10 Luan van - QLNN là quản lý toàn diện mọi mặt của của đời sống xã hội: chính trị; an ninh, quốc phòng, ngoại giao; kinh tế; văn hóa; xã hội…; - QLNN mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ bằng pháp luật, chính sách để quản lý xã hội. Tất cả các yếu tố QLNN nêu trên nhằm mục tiêu là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội theo một trật tự nhất định mà nhà nước đó đề ra.
QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, do các công chức và cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [17, tr. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa Nói về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật; Những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ấy tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [2, tr.
Điều đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành mối quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam và Bác đã có những quyết sách, chủ trương hành động đúng đắn, khơi dậy được sức mạnh của toàn dân, tạo điểm tựa tinh thần để cùng nhân dân làm nên những chiến công trong lịch sử dân tộc. Theo định nghĩa của Tổng thư ký UNESCO thì văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành 11 Luan van nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [3, tr. Tóm lại, văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn.
Tiếp thu quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết, Đảng ta cũng khẳng định những giá trị trường tồn và sức mạnh to lớn của văn hóa. Đó là: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Vǎn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [4]. Đây là biểu hiện của sự kế thừa, tiếp thu và bổ sung tinh thần, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa trong điều kiện, tình hình hiện nay.
Từ công tác quản lý, có thể nhận thấy hai yếu tố cốt lõi khi đề cập tới khái niệm văn hóa là: giá trị văn hóa và hoạt động văn hóa: - Giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người. Đảng ta rất đề cao giá trị văn hóa và xuyên suốt trong mỗi thời kỳ, gần đây tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) của Đảng đã xác định: "Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật"; Ví dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ 12 Luan van quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [5].
Chính vì vậy, tinh thần yêu nước đã thấm sâu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác cho dù chúng có hùng mạnh đến đâu, đó là một giá trị truyền thống cơ bản của dân tộc ta. Ngày nay, giá trị văn hóa đặt trong bối cảnh của tình hình quốc tế và trong nước ở thời kỷ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cụ thể, thời gian vừa qua, xảy ra dịch bệnh được xác định từ ngày 23 tháng 01 năm 2020 (thời điểm xác định trường hợp đầu tiên mắc ca bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra). Từ đây, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại bước vào “cuộc chiến đấu trong thời bình”.
Cuộc chiến phòng, chống dịch Covid- 19 với tư tưởng chỉ đạo và phương châm hành động là “Chống dịch như chống giặc”. Một lần nữa, truyền thống đó lại được khơi dậy trong nhân dân bằng việc chấp hành nghiêm túc mọi yêu cầu từ Chính phủ và chung tay cùng nhau chống dịch Covid-19; - QLNN đối với hoạt động văn hóa là sự tác động của Nhà nước đến đời sống văn hóa thông qua việc tổ chức, quản lý mọi hoạt động văn hóa nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển văn hóa trong quá trình xây dựng CNXH, đảm bảo sự phát triển của văn hóa theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân; - QLNN đối với hoạt động văn hoá bao gồm toàn bộ hoạt động văn hóa và thông tin, toàn bộ nền văn hóa quốc gia (văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và những hoạt động của con người liên quan đến văn hóa) bằng quyền lực của nhà nước, thông qua hiến pháp, pháp luật và các cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 32/2012/NĐ-CP về quản lý xuất, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh như sau: Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm không nhằm mục đích kinh doanh (sau đây gọi là xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm): là hoạt động đưa từ Việt Nam ra nước ngoài, đưa từ nước ngoài vào Việt Nam qua cửa khẩu, mạng internet hoặc các hình thức khác đối với văn hóa phẩm để sử dụng riêng, biếu, tặng, thừa kế, triển lãm, dự thi, hợp tác trao đổi, hội thảo, liên hoan, viện trợ, phổ biến hoặc các mục đích khác không mang tính thương mại thu lợi nhuận. Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm QLNN đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm có những đặc điểm sau: - Chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Bảo đảm dân chủ cho hoạt động sáng tạo, phát triển các sản phẩm văn hóa. - Bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và bảo đảm tính đa dạng của sản phẩm văn hóa. - Kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc với mở rộng giao lưu. - Tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam, ngăn chặn chống sự xâm nhập của văn hóa phẩm xấu.
- Góp phần xã hội hóa các hoạt động văn hóa và chống xu hướng thương mại hóa hoạt động văn hóa. Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm Điều 60 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.