Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI NGHINH ÔNG NAM HẢI, HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG 1. Cơ sở khoa học về quản lý lễ hội 1. Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội Khái niệm cơ bản - Lễ hội: “Lễ hội ra đời từ sinh hoạt văn hóa mang dấu ấn cộng đồng đậm nét, là một bộ phận quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, là nét đẹp được hình thành từ bao đời nay nhằm thỏa mãn nhu cầu hướng về cội nguồn, sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử đã có công dựng nước và giữ nước”. [40] Cụm từ “Lễ hội” vốn được ghép bởi hai từ Hán - Việt, đó là Lễ và Hội, do vậy lễ hội thường có hai phần, phần lễ và phần hội.
Lễ và hội là một thể thống nhất không thể tách rời. Lễ là phần tín ngưỡng (tế, rước), là phần đầu tiên khi tiến hành lễ hội. Lễ là cốt lõi, là phần quan trọng nhất mang tính thiêng liêng tôn kính, là nghi lễ thờ cúng thần, thánh được coi là linh hồn của lễ hội. Hội là các hiện tượng sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nảy sinh, tích hợp và bảo lưu trong môi trường tín ngưỡng tôn giáo, nếu môi trường tín ngưỡng tôn giáo bị loại bỏ thì bản thân các sinh hoạt văn hóa cũng không thể tồn tại.[36] Giá trị của lễ hội đó là: Lễ hội thể hiện ước nguyện thâm sâu trong con người.
Sự tiến bộ của văn minh kỹ thuật không hề loại trừ sự mê tín mà ngược lại. Ngay cả các quốc gia phương Tây thì những điều mê tín dị đoan vẫn tràn ngập chứ không phải không có.Văn minh vật chất chỉ đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của con người muốn được sống tốt hơn, tiện nghi hơn, nhanh hơn chứ không giải quyết được các nhu cầu thâm sâu khác liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng. Lễ hội được sinh ra để tạo sự gắn kết trong cộng đồng, gắn kết với con người với thần linh và các lực lượng 11 siêu nhiên trên đời này. Cho nên lễ hội là dịp rất quan trọng trong xã hội truyền thống vì nó cung cấp cho con người một thế giới quan, nhân sinh quan, điều giúp họ cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa.
Thậm chí có những lễ hội đảo ngược tầng lớp, người nghèo có quyền la hét chế giễu người giàu. Như lễ hội nõ nường ở Phú Thọ nhấn mạnh vai trò quan trọng của quan hệ tình dục vì đó là nguồn gốc tạo ra sự sống. Lễ hội thể hiện ước nguyện thâm sâu nhất trong con người mình. Trong khi đó văn minh vật chất thì đàn áp điều đó và cho đó là điều vô lý.
Lễ hội phản ánh trăn trở trong xã hội. Những lời kết án mang tính đạo đức chưa chắc đã đúng. Xã hội như thế nào thì sẽ phản ánh trong lễ hội như thế đó. Một số người giàu lên bất thường thì người khác sẽ bắt đầu tin rằng với sự trợ giúp của thần linh họ cũng sẽ trở thành giàu có giống như vậy.
Người dân sẽ nghĩ những kẻ đó có sự trợ giúp của thần linh và cho rằng họ chỉ may mắn thôi. Vậy thì hãy cầu mong sự may mắn chứ đừng cầu mong tài năng. Còn nếu trong xã hội mà cơ hội phát triển được dành cho những người có năng lực thì chuyện đó sẽ giảm xuống. Ném tiền vào Phật bắt Phật phải phù hộ cho mình thể hiện mong muốn rằng mình sẽ thành công bất chấp mình là ai, bất chấp việc mình thực hiện hành vi như thế nào.
Lễ hội phản ánh những trăn trở đang diễn ra trong xã hội cũng như phản ánh quan điểm của người dân với xã hội rằng họ không thể thành đạt chỉ với tài năng mà phải nhờ vào một sức mạnh siêu nhiên nào đó. Người Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung không tin rằng có tài là sẽ thành công. Quan điểm chung là âm phù dương trợ thần linh hay thần tài sẽ phù hộ cho mình. Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng.
Lễ hội luôn thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã hay cộng đồng nghề nghiệp hoặc cộng đồng tôn giáo, có thể thấy chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự liên kết cộng đồng. Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ hay gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong 12 các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá … Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng. Ngày nay trong điều kiện xã hội hiện đại con người càng ngày càng khẳng định cái cá nhân, cá tính của mình nhưng không vì thế mà cộng đồng bị phá vỡ mà nó chỉ biến đổi các sắc thái phạm vi và con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng. Trong điều kiện như vậy lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kết cộng đồng ấy.
Giá trị cân bằng đời sống tâm linh. Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần thì tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh. Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng chân thiện mỹ cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng. Như vậy tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh đều là tôn giáo tín ngưỡng.
Có thể thấy chính các nghi lễ, lễ hội đã góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người. Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị. Trong các lễ hội đó nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh do vậy mà lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc.
Đặc biệt trong thời điểm mạnh của lễ hội khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình. Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt. Tuy thế, lễ hội cũng có những hạn chế nhất định, đó là những hệ lụy phát sinh do chúng ta nhận thức chưa đúng về lễ hội khiến giá trị đích thực của nó bị 13 mất đi hoặc giảm sút, sai lệch, méo mó. Xu hướng thương mại hóa lễ hội, lãng phí, thậm chí dung tục hóa lễ hội đi cùng với tệ nạn bói toán, cờ bạc, hiện đại hóa lễ hội vô căn cứ, lợi dụng lễ hội để trục lợi diễn ra khá thường xuyên ở những mức độ khác nhau gây ra sự ô nhiễm môi trường nhân văn và môi trường sinh thái ở phạm vi rộng lớn.
- Lễ hội truyền thống: Theo Nghị định số 110/2018/NĐ-CP, ngày 29/8/2018 Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội: “Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.[12] “Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử”. [40] Như vậy, lễ hội truyền thống là hoạt động văn hóa mang những giá trị tốt đẹp của một cộng đồng, một nhóm người, có tính truyền thống, kế thừa, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nối tiếp nhau, nhằm mục đích bảo tồn, phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội. Lễ hội truyền thống được coi như một bảo tàng sống, tồn tại đồng hành và tạo nên ký ức văn hoá của dân tộc, có sức sống lâu bền và lan toả trong đời sống nhân dân, thể hiện nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư. Lễ hội truyền thống có giá trị đặc biệt trong sự cố kết cộng đồng ngày càng bền chặt hơn.
Đồng thời, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau hiểu được công lao tổ tiên, tỏ lòng tri ân công đức của các vị anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối đã có công dựng nước, giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc, biết giữ gìn, kế thừa và phát huy 14 những giá trị đạo đức truyền thống quý báu cũng như phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc; góp phần xây dựng hình ảnh một dân tộc Việt Nam với bản sắc văn hóa tinh hoa, lâu đời. Việc tổ chức lễ hội truyền thống còn góp phần tích cực trong giao lưu với các nền văn hóa thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho văn hoá Việt Nam có sức mạnh chống lại sự ảnh hưởng không tích cực của văn hoá ngoại lai. - Quản lý nhà nước về lễ hội. “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của lễ hội truyền thống là làm cho lễ hội được vận hành theo đúng qui luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại”[40].
Hiện nay, việc bảo tồn lễ hội truyền thống ở Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức, đòi hỏi các nhà quản lý phải xác định rõ nguyên nhân và giải pháp phù hợp để lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát triển trong xã hội đương đại. “Quản lý lễ hội là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo, bố trí quyền lực, kiểm soát hoạt động lễ hội nhằm đạt được hiệu quả.