phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Tập trung đi vào những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn trong đó nêu rõ về các khái niệm: Quản lý, quản lý nhà nƣớc, nhất là quản lý nhà nƣớc đối với các dịch vụ văn hóa; khái niệm dịch vụ văn hóa. Những nội dung cơ bản của chƣơng 1 làm tiền đề cho chƣơng 2. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các dịch vụ văn hóa tại thành phố Nha Trang Khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn thành phố Nha Trang, từ đó rút ra những bất cập, hạn chế cần tập trung giải quyết.
Nội dung cơ bản của chƣơng 02 là cơ sở khoa học, là điều kiện cần thiết để có thể xác định đƣợc phƣơng hƣớng, mục tiêu và đƣa ra những giải pháp mang tính khả 9 thi, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nƣớc đối với các dịch vụ văn hóa trên địa bàn thành phố Nha Trang ở chƣơng 3. Chƣơng 3: Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc đối với các dịch vụ văn hóa Nội dung chƣơng 3 tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và mang tính khả thi cao, nhằm tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc đối với các hoạt động dịch vụ văn hóa trên địa bàn thành phố Nha Trang, góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của tỉnh Khánh Hòa từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ Ý UẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước đối với các dịch vụ văn hóa, khái niệm về dịch vụ văn hóa 1.1 Khái niệm về quản lý Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong mỗi lĩnh vực, phạm vi hoặc mỗi ngành nghề nghiên cứu, ứng dụng và vận hành quản lý ở mỗi góc độ riêng biệt, cũng từ đó đƣa ra các định nghĩa riêng về quản lý của lĩnh vực hay ngành khoa học đó. Theo từ điển tiếng Việt điện tử (http://www.de) thì quản lý có hai tầng nghĩa.
Ở tầng nghĩa thứ nhất quản lý đƣợc hiểu là “tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện nhƣ đƣờng lối của chính quyền quy định” ví dụ: Quản lý thị trƣờng ; Quản lý xí nghiệp. Ở tầng nghĩa thứ hai quản lý đƣợc hiểu là giữ gìn và sắp xếp ví dụ: Quản lý hồ sơ và lý lịch cán bộ ; Quản lý thƣ viện.Mác viết: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó đều tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng [12,tr. Theo quan niệm của Mác bất kì hoạt động xã hội tập thể nào cũng cần phải có một mô hình hoạt động và đứng sau nó là hoạt động quản lý của một cá nhân hay cả tập thể.
Nếu không có mô hình chung để hoạt động thì mỗi cá 11 nhân sẽ hoạt động một cách riêng lẻ, mỗi ngƣời làm việc theo một cách không phối hợp cùng nhau và dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, hiệu quả đạt đƣợc không cao, thậm chí là không đạt đƣợc kêt quả mong muốn. Nhƣng câu hỏi đặt ra có mô hình chung để hoạt động rồi thì sao? Nó sẽ thế nào nếu không có vai trò của hoạt động quản lý? Những ngƣời tham gia trong mô hình chung ấy sẽ làm những gì? Làm ở đâu và làm nhƣ thế nào? Nếu không có hoạt động quản lý phân bổ thời gian và phân công lao động hợp lý, quy hoạch các hoạt động theo từng nhóm hoặc theo tiến độ công việc thì mặc dù có mô hình chung đi chăng nữa thì lao động tập thể đó cũng không thể đạt hiệu quả cao. Nhƣ vậy, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhƣng chƣa có một định nghĩa thống nhất.
Có nhiều cách định nghĩa và hiểu về thuật ngữ quản lý khác nhau. TayLor, nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, xuất phát từ nhu cầu khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phƣơng tiện lao động nhằm tăng cƣờng năng suất lao động thì cho rằng “Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [24,tr. Ở góc độ điều khiển học A.Berg cho rằng quản lý là quá trình chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ sự tác động vào các phần tử biến thiên của nó [15,tr. Nhƣ vậy, ở mỗi lĩnh vực khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau về quản lý.
Trong các loại quản lý nêu trên thì quản lý xã hội là phức tạp nhất. Bởi, một mặt xã hội là một hệ thống trên của kinh tế, bao gồm tất cả các hoạt 12 động cả về kinh tế, chính trị, hành chính, đạo đức tinh thần. nên nó chứa đựng tất cả những sự phức tạp của các đối tƣợng phải quản lý. Mặt khác, trong quản lý xã hội có những quan hệ phi chính thức nhƣ quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật.
Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các đối tƣợng, các quan hệ nhƣ giữa quan hệ kinh tế với quan hệ đạo đức, giữa quan hệ kinh tế với quan hệ hành chính, quan hệ pháp lý. làm cho việc quản lý càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Hiểu một cách chung nhất, quản lý là một sự điều tiết rất cao, mang tính xã hội, nó luôn là hoạt động hƣớng đích giữa chủ thể quản lý với đối tƣợng quản lý khiến các hoạt động trong xã hội phải tự giác tuân thủ đi đúng theo đƣờng hƣớng đã vạch ra, thông qua những biện pháp, phƣơng pháp, phƣơng tiện quản lý nhằm hoàn thiện hóa hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu. Nói tới quản lý là nói tới cả một quá trình chứ không phải chỉ nói nhƣ một hành động tức thời hay chỉ một hành động ngăn chặn.
Cho nên, có thể nói rằng quản lý là một quá trình đi từ chỗ nắm đƣợc, nắm đúng cái hiện có, thấy đƣợc, thấy đúng cái cần có đến biết tìm mọi biện pháp, phƣơng tiện khả thi và tối ƣu để đƣa cái hiện có lên cái cần có trong điều kiện biến đổi của môi trƣờng. Chủ thể quản lý có thể là một tổ chức, một cá nhân và tác nhân tạo ra các tác động trong quá trình quản lý. Đối tƣợng quản lý có thể là một ngƣời, một nhóm ngƣời hoặc một cộng đồng ngƣời; có thể là một sự vật. Đối tƣợng quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra.
Chủ thể của quá trình quản lý này có thể là đối tƣợng của quá trình quản lý kia. Quản lý là một khoa học và nghệ thuật vì nó tuân thủ chặt chẽ các thao tác hợp quy luật, hơn thế nữa đòi hỏi phải có kinh nghiệm, có tầm nhìn, dự báo tƣơng lai, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để có thể xử lý tốt các mối quan hệ, đƣa đến hiệu quả tối ƣu. 13 Từ những ý chung nhất của các định nghĩa và từ phân tích trên tác giả nhận thấy định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra [21,tr.11] là phù hợp với quy luật khách quan. Các vấn đề cơ bản, cốt lõi của quản lý: - Chủ thể quản lý: Là cá nhân hoặc cơ quan, đơn vị.
Chủ thể quản lý đƣa ra phƣơng pháp quản lý, công cụ quản lý và tác động nó tới đối tƣợng quản lý trong quá trình hoạt động nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. - Đối tƣợng quản lý: Là một cá nhân, tập thể, cơ quan, đơn vị hoặc một tổ chức, hoặc bất kì đối tƣợng nào nhận sự tác động từ chủ thể quản lý. Ví dụ bể cá cảnh là đối tƣợng quản lý của ngƣời chơi cá cảnh, em b là đối tƣợng quản lý của bố mẹ, nhân viên là đối tƣợng quản lý của thủ trƣởng. Trong từng trƣờng hợp cụ thể vai trò chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý sẽ đƣợc hiểu khác nhau.
Ví dụ anh A làm việc ở Phòng Tổ chức - Hành chính của cơ quan C, anh B là trƣởng phòng của anh A trong mối quan hệ này anh A là đối tƣợng quản lý của anh B là chủ thể quản lý nhƣng trong một mối quan hệ khác Anh B lại là đối tƣợng quản lý của ngƣời có chức vụ cao hơn. Nhƣ vậy, trong mỗi một mối quan hệ khác nhau, vai trò của đối tƣợng quản lý và chủ thể quản lý cần phải đƣợc xác định cụ thể, rõ ràng. Một đối tƣợng quản lý có thể chịu tác động của nhiều chủ thể quản lý (nhân viên chịu tác động của chủ thể quản lý của các chủ thể quản lý: tổ trƣởng, trƣởng phòng, thủ trƣởng đơn vị.) và tƣơng tự nhƣ vậy một chủ thể quản lý có thể tác động tới nhiều các đối tƣợng quản lý khác nhau (Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh quản lý các quận, huyện, thị trấn, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, các sở ban ngành. - Mục tiêu quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một điểm nhất định do chủ thể quản lý định trƣớc, đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng nhƣ lựa chọn các phƣơng pháp quản lý thích hợp.