Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

  • Lý do chọn đề tài: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, du lịch trở thành nhu cầu thiết yếu và là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp nguồn thu ngoại tệ và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Huyện Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh) là vùng đất giàu bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời, lưu giữ hệ thống di tích, danh thắng, phong tục tập quán và lễ hội đặc trưng của cư dân đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại Yên Hưng thời điểm nghiên cứu vẫn phát triển hạn chế, tài nguyên du lịch chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng vốn có. Đề tài được thực hiện nhằm giới thiệu cảnh quan, tiềm năng và đề xuất các giải pháp phát triển hiệu quả tài nguyên du lịch văn hóa tại địa phương.
  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu, nghiên cứu và tiến tới đánh giá tiềm năng phát triển du lịch văn hóa của huyện Yên Hưng.
    2. Phân tích thực trạng hoạt động khai thác du lịch trên địa bàn huyện Yên Hưng.
    3. Xây dựng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển du lịch văn hóa Yên Hưng trong mối liên hệ chặt chẽ với không gian du lịch tỉnh Quảng Ninh.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Yên Hưng có khả năng khai thác phát triển du lịch; hiện trạng khai thác và hệ thống giải pháp phát triển du lịch văn hóa.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh (có đối sánh trong mối liên hệ vùng với Hải Phòng, Uông Bí, Hạ Long).
    • Phạm vi thời gian: Dữ liệu hiện trạng và số liệu thống kê kinh tế - xã hội, du lịch tập trung trong giai đoạn 2005 - 2008, cùng các định hướng dự báo đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

  • Khung lý thuyết và văn bản pháp lý áp dụng:
    • Khái niệm du lịch văn hóa: Khóa luận trích dẫn quan điểm của TS. Trần Nhạn (du lịch nhằm thẩm nhận văn hóa, thỏa mãn lòng ham hiểu biết qua các chuyến đi), TS. Trần Đức Thanh (hoạt động du lịch diễn ra trong môi trường nhân văn hoặc tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn) và định nghĩa chính thức tại Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 ("Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống").
    • Văn bản pháp lý liên quan: Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (Điều 1 khẳng định bản chất văn hóa của du lịch); Luật Di sản văn hóa; các định hướng từ Hội nghị Bộ trưởng Du lịch các nước Châu Á - Thái Bình Dương.
    • Mô hình tác động của tài nguyên du lịch văn hóa: Phân tích quá trình thụ nhận của du khách qua 4 giai đoạn kế tiếp nhau gồm: (1) Giai đoạn thông tin, (2) Giai đoạn tiếp xúc, (3) Giai đoạn nhận thức, và (4) Giai đoạn đánh giá nhận xét.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Khai thác dữ liệu thứ cấp từ sách báo, tạp chí chuyên ngành du lịch Quảng Ninh và niên giám thống kê địa phương.
    • Phương pháp phân tích tổng hợp: Xử lý hệ thống tư liệu lịch sử, văn hóa, tài nguyên và thực trạng hạ tầng để rút ra các nhận định khoa học.
    • Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp khảo sát các điểm di tích tiêu biểu, cơ sở hạ tầng, tuyến điểm trên địa bàn huyện Yên Hưng nhằm ghi nhận hiện trạng vật thể và phi vật thể.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Niên giám thống kê huyện Yên Hưng (năm 2005, 2006).
    • Dữ liệu thống kê của Sở Du lịch Quảng Ninh (giai đoạn 2006 - 2008).
    • Các hồ sơ, quyết định xếp hạng di tích lịch sử của Bộ Văn hóa - Thông tin.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những cơ sở lý luận chung về phát triển du lịch văn hoá

Chương I tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa, làm rõ khái niệm, đặc điểm và vai trò của loại hình này đối với phát triển kinh tế - xã hội:

  • Đặc điểm của tài nguyên du lịch văn hóa: Mang tính phổ biến (hiện diện ở mọi cộng đồng dân tộc); tính tập trung và dễ tiếp cận (thường gắn liền với các khu dân cư lâu đời); tính truyền đạt nhận thức (mục đích trải nghiệm thiên về nhận thức và làm giàu tri thức hơn là hưởng thụ đơn thuần); không mang tính mùa vụ khắt khe như du lịch tự nhiên (ngoại trừ lễ hội); việc đánh giá chủ yếu dựa vào định tính trực cảm.
  • Vai trò đối với kinh tế - xã hội: Góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương thông qua cung ứng sản phẩm bản địa; thúc đẩy các ngành kinh tế liên quan (nông nghiệp, công nghiệp chế biến, giao thông vận tải, dịch vụ); nâng cao dân trí và bảo tồn bản sắc; tạo điều kiện hội nhập quốc tế.
  • Các yêu cầu phát triển du lịch văn hóa: Phải bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với tài nguyên du lịch khác; phải dựa trên quy hoạch hợp lý, khoa học; phải huy động sự tham gia và mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư sở tại.
  • Các nhân tố ảnh hưởng: Nhóm nhân tố tài nguyên du lịch văn hóa; nhân tố khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng (giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cấp thoát nước, cấp điện); cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (cơ sở lưu trú, ăn uống, mạng lưới thương mại, công trình thông tin văn hóa); nhân tố nguồn nhân lực (cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, đội ngũ hướng dẫn viên, cộng đồng địa phương); nhóm nhân tố thể chế chính sách, pháp luật, trình độ dân trí, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Chương II: Giới thiệu về Yên Hưng và tổng quan tiềm năng du lịch văn hoá của Yên Hưng

Chương II phân tích toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch của huyện Yên Hưng:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
    • Tọa độ địa lý: $20^\circ 45'06'' - 21^\circ 02'09''$ vĩ độ Bắc, $106^\circ 45'30'' - 106^\circ 00'59''$ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp thị xã Uông Bí và huyện Hoành Bồ; phía Nam giáp Cát Hải và cửa Nam Triệu; phía Đông giáp thành phố Hạ Long và vịnh Hạ Long; phía Tây giáp huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng).
    • Diện tích tự nhiên: 33.191,6 ha (chiếm 5,4% diện tích tỉnh Quảng Ninh). Hệ thống sông Lạch và sông Chanh chia huyện thành hai vùng rõ rệt: Hà Bắc và Hà Nam.
    • Phân bổ quỹ đất: Đất đồi núi chiếm 6.100 ha (18,3%); đất đồng bằng chiếm gần 14.880 ha (44,6%); đất bãi bồi cửa sông ven biển (đất mặn, đất cát) chiếm gần 12.300 ha (37,1%).
    • Bờ biển dài hơn 80 km với hơn 12.000 ha bãi triều đầm (Đầm Nhà Mạc, Đầm Xoài, Hà An, Hoàng Tân), trữ lượng khai thác thủy sản đạt hơn 10.000 tấn/năm.
    • Tài nguyên nước nổi bật với hồ Yên Lập (hồ thủy lợi lớn nhất tỉnh Quảng Ninh, dung lượng thường xuyên 127,5 triệu $\text{m}^3$, dung tích hữu ích 113,2 triệu $\text{m}^3$, kênh chính dài 28,4 km). Diện tích rừng đạt 6.300 ha (18,7% diện tích toàn huyện).
    • Khí hậu nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°C, lượng mưa trung bình gần 2.000 mm (cao nhất đạt 2.600 mm).
Chỉ số tự nhiên / Hạ tầng Giá trị thống kê trong văn bản
Diện tích tự nhiên 33.191,6 ha
Dân số (năm 2005) 136.550 người (13,6 vạn người; mật độ 412 người/$\text{km}^2$)
Lao động trong độ tuổi (2005) 75.100 người (chiếm 55% dân số); dự báo năm 2010 là 83.000 người
Đơn vị hành chính 20 đơn vị (19 xã, 1 thị trấn Quảng Yên)
Đường bộ 267 km (hơn 20 km quốc lộ, 70 km liên huyện, 193 km liên thôn xã)
Hạ tầng cấp nước / viễn thông Nhà máy nước Quảng Yên $2.000\text{ m}^3$/ngày đêm; 10.000 máy điện thoại (2006), 5 bưu cục
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên: Thác Mơ (xã Đông Mai, gồm 3 tầng thác: Thác Mơ cao 15 m, Thác Đôi cao 5 m, Thác Sen cao 9 m), hồ Yên Lập, đồi thông Yên Lập (10 ha rừng thông 40 năm tuổi gắn với kỷ niệm Bác Hồ về thăm năm 1963), đảo Hoàng Tân, Đầm Nhà Mạc.
  • Tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu: Toàn huyện có khoảng 237 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 39 di tích được xếp hạng cấp quốc gia:
    • Cụm di tích chiến thắng Bạch Đằng năm 1288:
      • Bãi cọc Bạch Đằng (xã Yên Giang): Được công nhận di tích lịch sử ngày 23/3/1988 (dịp kỷ niệm 700 năm chiến thắng Bạch Đằng). Khu vực bảo vệ rộng $220\text{ m}^2$, lưu giữ khoảng 300 cọc gỗ lim, táu cắm chữ "Chi" (Z), nghiêng chếch hướng Đông 15°, đường kính 15 - 33 cm, dài 2 - 2,8 m (có cọc dài 3,2 m). Trong đó có 42 cọc giữ nguyên trạng cắm sâu dưới bùn hơn 2 m, nhô cao 0,2 - 2 m. Mật độ nửa phía Nam 0,9 - 1 $\text{m}^2$/cọc, nửa phía Bắc 1,5 - 2 $\text{m}^2$/cọc.
      • Bến đò Rừng (Bến Rừng): Nơi Trần Hưng Đạo phát hỏa hiệu lệnh tấn công và ghi dấu bà bán nước cung cấp lịch con nước triều.
      • Cây lim Giếng Rừng (thị trấn Quảng Yên): Nằm dưới chân núi Tiên Sơn trên khu đất $1.300\text{ m}^2$, cao khoảng 35 m; cây 1 chu vi gốc 5,5 m (thân chính cao 6 m), cây 2 chu vi gốc 7,2 m (thân chính cao gần 7 m); công nhận di tích ngày 02/3/1988.
      • Đền Trần Hưng Đạo (Đền Bạch Đằng): Xây dựng kiểu chữ "Tam" (Tiền đường, Bái đường, Hậu cung) với diện tích $96\text{ m}^2$; chuyển về doi đất cổ ngã ba sông năm 1934 (Bảo Đại thứ 9); lưu giữ sắc phong triều Đồng Khánh, Tự Đức, Duy Tân. Được cấp bằng di tích theo Quyết định số 100/VH/QĐ ngày 21/01/1989.
      • Miếu Vua Bà: Thờ bà bán nước chỉ dẫn địa hình; kiến trúc chữ "Công" (I); cùng Quyết định số 100/VH/QĐ ngày 21/01/1989.
      • Đình Trung Bản (xã Liên Hòa): Xây dựng từ thế kỷ XV, trùng tu thời Khải Định; bố cục chữ "Chuôi vồ" trên diện tích $1.732\text{ m}^2$; Tiền đường 5 gian kiến trúc "hai thò ba thụt"; lưu giữ 6 đạo sắc phong thời Nguyễn và pho tượng Trần Hưng Đạo chạm trổ sơn son thếp vàng; công nhận di tích theo Quyết định số 1548/QĐ ngày 30/8/1991.
      • Đình Điền Công (xã Điền Công): Thờ Trần Hưng Đạo và 4 vị đại tướng quân (Cao Sơn Quý Minh, Nam Hải Tôn Thần, Phi Bồng Tướng Quân, Bạch Thạch Tướng Quân); kiến trúc chữ "Đinh" diện tích $50\text{ m}^2$ (Tiền đường, Bái đường $26\text{ m}^2$, Hậu cung $11\text{ m}^2$); công nhận di tích ngày 24/11/2000.
      • Đền Trung Cốc (xã Nam Hòa): Nằm tại bãi cọc thứ hai; thờ Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão; kiến trúc chữ "Đinh"; lưu giữ câu đối "Phụ Trần lẫm liệt đan tâm tại / Sát Thát uy danh xích kiếm tồn"; công nhận di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 310/QĐ-VHTT ngày 13/02/1996.
    • Chùa Yên Đông (Pháp Âm Tự - xã Yên Hải): Xây dựng thế kỷ XVI, đại trùng tu ngày 21/8/1587 (năm Đoan Thái thứ 2), dựng bia "An Đông tự ký" năm 1590; lưu giữ 8 pho tượng Phật gỗ thời Mạc, 2 tấm bia đá thời Mạc, 27 pho tượng gỗ thời Nguyễn, bát hương sứ thời Lê và chuông đồng đúc năm Minh Mệnh thứ 13 (1832).
    • Đình Phong Cốc (Đình Cốc): Xây dựng cuối thế kỷ XVII, tái lập năm Gia Long 1805; thờ Thần Nông và Tứ vị Thánh Nương (Hoàng Hậu Kiều Nương, Hồng Hạnh, Hồng Liên); kiến trúc chữ "Nhị"; cửa gỗ lim chạm nổi rồng phượng; xếp hạng cấp quốc gia tháng 3/1988.
    • Lễ hội truyền thống: Lễ hội Bạch Đằng (khai hội 15 tháng Giêng, chính hội ngày 8 tháng 3 âm lịch); Lễ hội Tiên Công (mùng 6 - 7 tháng Giêng âm lịch, gắn với 19 vị Tiên Công khai phá đảo Hà Nam năm 1434, tổ chức nghi lễ mừng thọ các cụ 80, 90, 100 tuổi và tục rước lễ vật hình long mã, nghi thức đấu vật, đắp đất vào nền miếu).
    • Làng nghề và ẩm thực: Nghề đan ngư cụ (lờ, đó) tại thôn Hưng Học (xã Nam Hòa); nghề đóng thuyền vỏ gỗ thủ công và đan thuyền nan (chiếm 10 - 15% số hộ); ẩm thực đặc sản gồm ngán (rượu ngán, gỏi ngán), sò huyết, hà, sam biển, nem chua, bánh gio; hệ thống chợ hải sản (chợ Rừng, chợ Cốc, chợ Rộc).

Chương III: Thực trạng khai thác loại hình du lịch văn hoá ở Yên Hưng

Chương III phân tích các chỉ tiêu phát triển du lịch thực tế và chỉ rõ các tồn tại trong hoạt động khai thác tại địa phương:

  • Đặc điểm nguồn khách: Khách du lịch đến Yên Hưng chủ yếu là khách nội tỉnh đi tham quan, trẩy hội vào dịp đầu năm (tập trung cao điểm tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch, tính mùa vụ đậm nét). Khách lưu trú chiếm tỷ trọng nhỏ, chủ yếu là các đoàn khách ghé nghỉ một đêm trong lộ trình đi Yên Tử hoặc tour Hà Nội - Hạ Long - Cát Bà, cùng các đoàn khách công vụ.
  • Quy mô tăng trưởng lượng khách du lịch:
Năm Toàn tỉnh Quảng Ninh (nghìn lượt khách) Huyện Yên Hưng (nghìn lượt khách) Tỷ trọng Yên Hưng so với tỉnh (%)
2006 3.100 88 2,84% (bản gốc ghi 2,3%)
2007 3.300 109 3,30%
2008 4.200 182 4,33%

(Nguồn: Sở Du lịch Quảng Ninh, Niên giám thống kê huyện Yên Hưng)

  • Hạn chế nội tại được chỉ ra: Các khu, điểm du lịch vẫn tồn tại ở dạng nguyên sơ; cơ sở hạ tầng giao thông kết nối di tích còn khó khăn; mạng lưới nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng quy mô nhỏ lẻ, chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu; nguồn nhân lực du lịch thiếu và chưa qua đào tạo chính quy, chuyên sâu; công tác quản lý nhà nước về du lịch còn nhiều bất cập.

Chương IV: Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hoá Yên Hưng

Dựa trên đề cương kết cấu khóa luận được tác giả xác lập tại phần mở đầu, Chương IV đề xuất hệ thống giải pháp định hướng nhằm:

  • Hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể và chi tiết không gian phát triển du lịch văn hóa Yên Hưng gắn liền với các trung tâm du lịch phụ cận (Hạ Long, Uông Bí, Hải Phòng).
  • Đẩy mạnh đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông kết nối di tích, hệ thống bến bãi, cấp thoát nước và mạng lưới viễn thông phục vụ du khách.
  • Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù: kết hợp tuyến tham quan di tích lịch sử Bạch Đằng, trải nghiệm văn hóa lễ hội Tiên Công, tham quan làng nghề đan lát Hưng Học và thưởng thức ẩm thực thủy hải sản.
  • Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ cho đội ngũ nhân lực quản lý, thuyết minh viên và khuyến khích sự tham gia trực tiếp của cộng đồng cư dân địa phương.
  • Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá xúc tiến hình ảnh du lịch Yên Hưng trên các cổng thông tin điện tử và phương tiện truyền thông.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính:
    • Tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa chi tiết 237 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Yên Hưng, làm rõ giá trị cấu trúc, niên đại và hiện vật của 39 di tích quốc gia tiêu biểu (cụm di tích chiến thắng Bạch Đằng 1288, đình Trung Bản, đình Điền Công, đền Trung Cốc, đình Phong Cốc, chùa Yên Đông).
    • Phản ánh trung thực các chỉ số hiện trạng kinh tế - du lịch giai đoạn 2005 - 2008: lượng khách du lịch đến Yên Hưng tăng từ 88 nghìn lượt (2006) lên 182 nghìn lượt (2008), tuy nhiên tỷ trọng đóng góp vào lượng khách toàn tỉnh Quảng Ninh vẫn ở mức khiêm tốn (chiếm 2,8% - 4,3%).
    • Ghi nhận chi tiết các thông số kỹ thuật khảo cổ và kiến trúc: kích thước bãi cọc ($220\text{ m}^2$, 300 cọc, độ nghiêng 15° Đông), kích thước hai cây lim Giếng Rừng (chu vi gốc 5,5 m và 7,2 m), diện tích và kết cấu khung gỗ của các ngôi đình, đền, chùa cổ.
  • Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất: Định hướng quy hoạch phát triển du lịch văn hóa bền vững, đầu tư đồng bộ hạ tầng kết nối di tích, đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với làng nghề đan ngư cụ và ẩm thực sông nước, chuẩn hóa đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm và quản lý bảo tồn di tích.
  • Đóng góp của khóa luận: Cung cấp bức tranh khảo cứu thực địa toàn diện về hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và điều kiện hạ tầng kỹ thuật của huyện Yên Hưng ở giai đoạn trước năm 2010; đặt nền tảng dữ liệu cho việc hoạch định liên kết tuyến du lịch văn hóa giữa Quảng Ninh và các địa phương trong vùng duyên hải Bắc Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi số liệu thống kê du lịch tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2006 - 2008; các phân tích về doanh thu du lịch và giải pháp triển khai ở Chương IV bị giới hạn theo dung lượng dữ liệu văn bản hiện có; chưa khảo sát sâu mức độ chi tiêu và mức độ hài lòng của du khách quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá sức chứa du lịch tại các điểm di tích chiến thắng Bạch Đằng khi tổ chức lễ hội lớn; xây dựng mô hình liên kết chuỗi tour du lịch di sản liên tỉnh (Hải Phòng - Quảng Ninh - Hải Dương); khảo sát định lượng nhu cầu của khách du lịch đối với sản phẩm làng nghề thủ công truyền thống Hưng Học.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Địa lý kinh tế; các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương và cán bộ quản lý văn hóa - du lịch tại thị xã Quảng Yên (huyện Yên Hưng cũ) và tỉnh Quảng Ninh.
  • Nội dung giá trị nhất: Hệ thống tư liệu mô tả chi tiết quy mô kiến trúc, văn bản pháp lý xếp hạng và hiện vật lưu giữ tại các cụm di tích lịch sử cấp quốc gia (đặc biệt là quần thể di tích Bạch Đằng, đình Cốc, chùa Yên Đông); quy trình và nghi thức tế lễ cổ truyền tại Lễ hội Tiên Công và Lễ hội Bạch Đằng.

Câu hỏi thường gặp

  • Khóa luận ghi nhận cụm di tích Bãi cọc Bạch Đằng có những thông số khảo cổ cụ thể nào? Bãi cọc thuộc xã Yên Giang, được xếp hạng di tích lịch sử ngày 23/3/1988. Toàn bộ bãi cọc được xây kè bảo vệ diện tích $220\text{ m}^2$, lưu giữ khoảng 300 cọc gỗ lim, táu cắm theo hình chữ "Chi" (Z), nghiêng chếch hướng Đông 15°. Đường kính cọc từ 15 cm đến 33 cm, chiều dài từ 2 m đến 2,8 m (có cọc dài tới 3,2 m). Có 42 cọc giữ nguyên trạng cắm sâu dưới bùn hơn 2 m, nhô cao từ 0,2 m đến 2 m. Mật độ cọc ở nửa phía Nam là 0,9 - 1 $\text{m}^2$/cọc, nửa phía Bắc là 1,5 - 2 $\text{m}^2$/cọc.

  • Hai cây lim Giếng Rừng có vị trí và kích thước ra sao trong tài liệu nghiên cứu? Hai cây lim nằm dưới chân núi Tiên Sơn, thuộc phố Đoàn Kết, thị trấn Quảng Yên, trên khu đất rộng $1.300\text{ m}^2$, chiều cao khoảng 35 m. Cây thứ nhất có chu vi gốc 5,5 m, thân chính cao 6 m; cây thứ hai có chu vi gốc 7,2 m, thân chính cao gần 7 m. Hai cây lim được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử bổ sung cho bãi cọc Bạch Đằng vào ngày 02/3/1988.

  • Chùa Yên Đông (Pháp Âm Tự) lưu giữ những hiện vật lịch sử có giá trị nghệ thuật nào? Chùa được xây dựng lại vào ngày 21/8/1587 (năm Đoan Thái thứ 2). Hiện vật quý giá nhất gồm hệ thống tượng Phật với 8 pho tượng điêu khắc gỗ thời Mạc (thế kỷ XVI), 2 tấm bia đá chạm khắc thời Mạc hình rồng uốn lượn vân xoắn đao mác hoa lá, 1 bát hương sứ thời Lê, 27 pho tượng gỗ thời Nguyễn và 1 chuông đồng lớn đúc năm Minh Mệnh thứ 13 (1832).

  • Lễ hội Tiên Công tại vùng đảo Hà Nam diễn ra vào thời gian nào và có những nghi thức đặc trưng gì? Lễ hội diễn ra vào mùng 6 và mùng 7 tháng Giêng âm lịch (chính hội ngày mùng 7) tại Miếu Tiên Công, suy tôn 19 vị Tiên Công khai hoang lập ấp năm 1434. Nghi thức đặc trưng gồm lễ mừng thọ các cụ 80, 90, 100 tuổi tại gia với mâm ngũ quả kết hình long mã, đoàn rước kiệu cụ Thượng lên miếu theo quy định "tiền tam hậu nhị", nghi thức đọc văn tế tạ ơn, biểu diễn đấu vật tượng trưng mở đầu phần hội và tục vác hòn đất đắp vào nền miếu để tái hiện truyền thống quai đê lấn biển.

  • Tăng trưởng lượng khách du lịch của huyện Yên Hưng giai đoạn 2006 - 2008 diễn biến ra sao? Theo số liệu Sở Du lịch Quảng Ninh và Niên giám thống kê huyện, lượng khách đến Yên Hưng tăng đều qua các năm: năm 2006 đạt 88 nghìn lượt (trên tổng số 3.100 nghìn lượt của tỉnh), năm 2007 đạt 109 nghìn lượt (trên 3.300 nghìn lượt của tỉnh), và năm 2008 đạt 182 nghìn lượt (trên 4.200 nghìn lượt của tỉnh).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Tiềm năng, thực trạng, giải pháp phát triển du lịch văn hoá huyện Yên Hưng - Tỉnh Quảng Ninh" đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch văn hóa và tiến hành khảo sát thực chứng sâu rộng trên địa bàn huyện Yên Hưng. Tác giả đã làm rõ tiềm năng đặc biệt vượt trội của hệ thống 237 di tích lịch sử văn hóa, danh thắng tự nhiên, các lễ hội dân gian đặc sắc và làng nghề truyền thống của địa phương. Đồng thời, công trình chỉ rõ những nút thắt về hạ tầng, tính mùa vụ và nguồn nhân lực trong giai đoạn 2005 - 2008, từ đó định hình các nhóm giải pháp nhằm khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên du lịch văn hóa trong không gian phát triển chung của tỉnh Quảng Ninh.