CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH 1. Những vấn đề cơ bản về dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách nhà nước 1. Một số khái niệm cơ bản Đầu tư: Có rất nhiều cách định nghĩa về đầu tư, tùy theo từng đối tượng sử dụng sẽ có những cách nhấn mạnh khác nhau, một số hiểu đầu tư đơn giản như sau: " Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằm mục tiêu thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận".[25] "Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia".[25] Như vậy có thể hiểu: Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả nào đó. Mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực phải sử dụng đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả sẽ đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học, …), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, …) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Những kết quả trực tiếp của sử dụng các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi không chỉ đối với người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được hưởng thụ.
Ví dụ: Một nhà máy Luan van 9 được xây dựng, tài sản vật chất của người đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời tài sản vật chất, tiềm lực sản xuất của nền kinh tế cũng được tăng thêm. Hai đặc trưng cơ bản của đầu tư là tính sinh lợi và thời gian kéo dài: Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư. Không thể coi là đầu tư, nếu việc sử dụng tiền vốn không nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giá trị lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra ban đầu. Đầu tư thường kéo dài thời gian, thường từ 2 năm đến 70 năm hoặc có thể lâu hơn nữa.
Đặc trưng này cho phép phân biệt hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh. Kinh doanh thường được gọi là một giai đoạn của đầu tư. Như vậy đầu tư và kinh doanh thống nhất ở tính sinh lời nhưng khác ở thời gian thực hiện; kinh doanh là một trong những nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư. Đầu tư phát triển: "Xét theo bản chất có thể phân chia hoạt động đầu tư trong nền kinh tế ra thành 3 loại: đầu tư tài chính (là hình thức đầu tư mang lại lợi nhuận trực tiếp cho người bỏ tiền ra để cho vay hoặc mua bán các chứng chỉ có giá mà không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế), đầu tư thương mại (đây là hình thức mà nhà đầu tư bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán), đầu tư tài sản vật chất và sức lao động (còn gọi là đầu tư phát triển).
Khác với hai hình thức trên, đầu tư phát triển tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, góp phần tích cực tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội" [25]. Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm 3 yếu cơ bản: Đầu tư phát triển là một chuỗi các hoạt động chi tiêu, hao phí các nguồn lực: nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất (đất đai, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu.), nguồn lực lao động và trí tuệ. Phương thức tiến hành các hoạt động đầu tư: xây dựng mới, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này. Luan van 10 Kết quả đầu tư, lợi ích đầu tư: Hoạt động đầu tư mang lại lợi ích cho chủ đầu tư nói riêng (doanh thu, lợi nhuận.) và đem lại lợi ích cho nền kinh tế- xã hội nói chung.
Đầu tư được tiến hành trong hiện tại và kết quả của nó được thu về trong tương lai. Như vậy, đầu tư phát triển là những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có. Dự án đầu tư phát triển: Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “Dự án đầu tư phát triển là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định”. [24] Ở Việt Nam, trong Luật Đấu thầu Số 43/2013/QH13: “Dự án đầu tư phát triển (sau đây gọi chung là dự án) bao gồm: chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng; dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt; dự án sửa chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề án quy hoạch; dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản; các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác”.
[25] Về mặt hình thức: Dự án đầu tư phát triển là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Về mặt nội dung: Dự án đầu tư phát triển là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau nhằm đạt được những mục đích đã đề ra thông qua nguồn lực đã xác định như vấn đề thị trường, sản phẩm, công nghệ, kinh tế, tài chính… Vậy, dự án đầu tư phát triển phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để thu được đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể. Đầu vào là lao động, nguyên vật liệu, đất đai, tiền vốn… Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào. Sử dụng đầu vào được hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp tổ chức quản trị và các luật lệ… Luan van 11 Dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư phát triển cũng gồm những thành phần chính sau: Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho chủ đầu tư nói riêng.
Các kết quả: Đó là những kết quả có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án. Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biểu và trách nhiệm của các bộ phận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người.
Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cho các dự án. Thời gian: Độ dài thực hiện dự án đầu tư phát triển cần được cố định. Dự án đầu tư phát triển được xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó vừa độc lập tương đối với nhau tạo thành chu trình của dự án.
Chu trình của dự án được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành kết quả. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giai đoạn sau, đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Đối với chủ đầu tư và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của chu trình dự án là rất quan trọng. Nhưng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi người có mối quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau.
Chủ đầu tư phải nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự. Đó là điều kiện để đảm bảo đầu tư đúng cơ hội và có hiệu quả. Đặc điểm dự án đầu tư phát triển Dự án đầu tư phát triển có những đặc điểm khác với các dự án đầu tư khác, cần phải nắm bắt để quản lý đầu tư sao cho có hiệu quả, phát huy được tối đa các nguồn lực. Luan van 12 Dự án đầu tư phát triển luôn đòi hỏi một lượng vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Vòng quay của vốn rất dài, chi phí sử dụng vốn lớn là cái giá phải trả cho dự án đầu tư phát triển. Vì vậy, việc ra quyết định đầu tư có ý nghĩa quan trọng. Nếu quyết định sai sẽ làm lãng phí khối lượng vốn lớn và không phát huy hiệu quả đối với nền kinh tế xã hội. Trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cần phải quản lý vốn sao cho có hiệu quả, tránh thất thoát, dàn trải và ứ đọng vốn.
Có thể chia dự án lớn thành các hạng mục công trình, sau khi xây dựng xong sẽ đưa ngay vào khai thác sử dụng để tạo vốn cho các hạng mục công trình khác nhằm tăng tốc độ chu chuyển vốn. Dự án đầu tư phát triển có tính dài hạn thể hiện ở: thời gian thực hiện đầu tư kéo dài nhiều năm tháng và thời gian vận hành kết quả đầu tư để thu hồi vốn rất dài.