Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của huyện Nam Trực tỉnh Nam Định Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của huyện Nam Trực tỉnh Nam Định 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Những vấn đề chung về vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nƣớc: Quan niệm, đặc điểm và vai trò 1. Quan niệm về vốn, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và ngân sách Nhà nước - Quan niệm về vốn Vốn là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Việt Nam là nước đang phát triển có nhu cầu vốn rất lớn để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vèn sẽ là tiền đề thúc đẩy việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng để đầu tư phát triển nền kinh tế hội nhập tốt vào nền kinh tế thế giới. Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nhà kinh tế học trước C.Mác đã nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là một phạm trù kinh tế.Mác khi nghiên cứu sự chuyển hoá của tiền thành tư bản đã khẳng định: "Như vậy là giá trị được ứng ra lúc ban đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động ấy biến giá trị đó thành tư bản" [3, tr.
Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn) trong phát triển kinh tế. Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng của tư bản là sinh lời. Tuy nhiên, để giá trị trở thành tư bản và tư sản sinh lời phải trải qua sự vận động. Thông qua sự vận động, tư bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng.
6 Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng vai trò quan trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Vì vậy, phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận nó trên nhiều bình diện khác nhau. Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm Chú giải thuật ngữ kế toán Mỹ, tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là "tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức" [13, tr. Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong cuốn Lịch sử tư tưởng kinh tế, I.Pôlianxki kết luận: Vốn là "một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn).
Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm" [14, tr. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học cũng chỉ ra rằng: Vốn là "tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi" [23, tr. Theo Luật Đầu tư (2014) của Việt Nam: "Vốn đầu tư là tiền và tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh". Những cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng, nhiều hình thái tồn tại của vốn.
Vốn có thể coi là tiền hay tài sản được giá trị hoá. Với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất - kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai. Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời. - Ngân sách Nhà nước: Bất cứ một chủ thể kinh tế nào dù là cá nhân, tập thể, doanh nghiệp, hay Nhà nước cùng đều phải có những nguồn lực tài chính nhất định để phục vụ cho việc thực hiện những mục tiêu định hướng của mình.
Đối với một Nhà nước thì nguồn lực tài chính đó là NSNN. Ngân sách Nhà nước với tư cách là một phạm trù kinh tế đã ra đời và tồn tại từ rất lâu. Là một công 7 cụ tài chính quan trọng của Nhà nước, NSNN xuất hiện dựa trên cơ sở hai tiền đề khách quan là vai trò kinh tế của Nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước để làm phương tiện vật chất trang trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội.
Bằng quyền lực của mình, Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuế bằng tiền, vay nợ.được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tiền tệ riêng có: Quỹ ngân sách Nhà nước. Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước. Tại Việt nam, định nghĩa về NSNN được thể hiện rõ trong Luật Ngân sách: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ những khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.
Ngân sách Nhà nước về thực chất là kế hoạch thu, chi của Chính phủ được Quốc hội phê chuẩn và quyết định. Thu NSNN là số tiền Nhà nước huy động từ các đối tượng thông qua luật định và các chính sách mà không ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng nộp. Thu NSNN bao gồm: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối ngân sách. Chi NSNN là số tiền Nhà nước sử dụng để duy trì phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo giữ vững chính quyền, từng bước nâng cao đời sống nhân dân lao động.
Luật NSNN đã quy định: “Chi Ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy 8 Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.” Vốn NSNN bao gồm cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, được hình thành từ tích luỹ của nền kinh tế và được Nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách hàng năm để thanh toán cho các đơn vị thực hiện các công trình thuộc kế hoạch Nhà nước. - Vốn đầu tư XDCB từ NSNN Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một bộ phận quan trọng của vốn đầu tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là một nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia. Dưới giác độ là một nguồn vốn đầu tư nói chung, vốn đầu tư XDCB từ NSNN cũng như các nguồn vốn khác - đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư, bao gồm các chi phí tiêu hao nguồn lực phục vụ cho hoạt động đầu tư, nghĩa là bao gồm toàn bộ chi phí đầu tư. Dưới giác độ một nguồn lực tài chính quốc gia, vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một bộ phận của quỹ NSNN trong khoản chi đầu tư của NSNN hàng năm được bố trí cho đầu tư vào các công trình, dự án XDCB của Nhà nước.
Như vậy có thể hiểu: Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một bộ phận của NSNN chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hoặc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế. Từ quan niệm về vốn đầu tư XDCB từ NSNN, có thể thấy nguồn vốn này có hai đặc điểm cơ bản: gắn với hoạt động đầu tư XDCB và gắn với NSNN. Gắn với hoạt động đầu tư XDCB, nguồn vốn này chủ yếu được sử dụng để đầu tư phát triển tài sản cố định trong nền kinh tế. Khác với các loại đầu tư như đầu tư chuyển dịch, đầu tư cho dự phòng, đầu tư mua sắm công v., đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kết cấu hạ tầng.
Đây là hoạt động đầu tư phát triển, đầu tư cơ bản và chủ yếu có tính dài hạn. Gắn với hoạt động NSNN, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được quản lý và sử 9 dụng đúng luật, theo các quy trình rất chặt chẽ. Khác với đầu tư trong kinh doanh, đầu tư từ NSNN chủ yếu nhằm tạo lập môi trường, điều kiện cho nền kinh tế, trong nhiều trường hợp không mang tính sinh lãi trực tiếp. - Phân loại nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN: Có nhiều cách phân loại phụ thuộc vào yêu cầu, mục tiêu quản lý của từng loại nguồn vốn khác nhau.
Cụ thể một số cách phân loại như sau: Theo tính chất công việc của hoạt động XDCB: vốn được phân thành chi phí xây lắp (nay gọi là xây dựng), chi phí thiết bị và chi khác. Trong đó, chi phí xây dựng và thiết bị chiếm tỷ trọng chủ yếu. Căn cứ vào nguồn hình thành, tính chất vốn và mục tiêu đầu tư, người ta phân chia thành các nhóm chủ yếu sau: Một là, nhóm vốn đầu tư XDCB tập trung của NSNN. Nhóm này lại bao gồm: vốn XDCB tập trung, vốn sự nghiệp có tích chất đầu tư xây dựng, vốn đầu tư cho các chương trình mục tiêu, vốn ngân sách xã dành cho đầu tư XDCB.