Chương 1. Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum. Giải pháp nâng cao quản lý nhà nước đối với trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu.
Chƣơng 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 1. Khái quát chung về trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu 1.Một số khái niệm - Hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa đƣợc làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam qua cửa khẩu biên giới, có xuất xứ từ nƣớc ngoài, đƣợc sản xuất từ một nƣớc khác. - Trị giá hải quan là giá trị của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đƣợc sử dụng làm cơ sở cho việc tính thuế và thống kê hàng hóa khi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu - Trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu là giá trị của hàng hóa làm cơ sở tính các sắc thuế phải nộp khi nhập khẩu. Trị giá hải quan làm cơ sở tính thuế đƣợc gọi là trị giá tính thuế, sau đây trong khuôn khổ luận văn này, tác giả thống nhất sử dụng trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế đƣợc gọi là trị giá tính thuế.
Trƣờng hợp viện dẫn nội dung quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật thì trị giá hải quan đƣợc hiểu là trị giá tính thuế. Việt Nam là thành viên của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) vì vậy hiện nay, trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu phải tuân thủ Hiệp định xác 8 định trị giá tính thuế hải quan (Là Hiệp định thực thi điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thƣơng mại - Tiếng Anh là General Agreement on Tariffs and Trade – đƣợc viết tắt là GATT). Theo GATT, cơ sở chủ yếu để xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định là trị giá giao dịch, tức là trị giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu. Việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu trƣớc hết phải là trị giá giao dịch, khi không thể đƣợc xác định theo trị giá giao dịch thì mới xem xét đến các phƣơng pháp xác định tiếp theo.
Trên cơ sở tuân thủ Hiệp định GATT, theo quy định của Luật Hải quan: trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam đƣợc quy định là giá thực tế mà ngƣời mua (bên nhập khẩu hàng hóa) phải thanh toán cho ngƣời bán (bên xuất khẩu hàng hóa), bao gồm cả phí bảo hiểm và chi phí vận tải hàng hóa đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cửa khẩu nhập đầu tiên đƣợc xác định tùy theo phƣơng thức vận chuyển, cụ thể: Đối với phƣơng thức vận chuyển đƣờng biển, đƣờng hàng không thì cửa khẩu nhập đầu tiên là cảng dỡ hàng ghi trên vận đơn của hãng vận chuyển; Đối với phƣơng thức vận chuyển bằng đƣờng sắt, cửa khẩu nhập đầu tiên là ga đƣờng sắt liên vận quốc tế đƣợc khai báo trên tờ khai hải quan hàng hóa nhập khẩu; Đối với phƣơng thức vận tải bằng đƣờng bộ, đƣờng thủy nội địa thì cửa khẩu nhập đầu tiên là cửa khẩu biên giới nơi hàng hóa nhập khẩu đi vào lãnh thổ Việt Nam, đƣợc khai báo trên tờ khai hải quan nhập khẩu hàng hóa. Phương pháp xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu Tuân thủ GATT, các quốc gia thành viên đều xây dựng các phƣơng pháp xác định giá trị tính thuế với các điều kiện và trình tự áp dụng cụ thể, trong đó có 01 phƣơng pháp chuẩn và 05 phƣơng pháp thay thế (đƣợc sử 9 dụng trong trƣờng hợp không áp dụng phƣơng pháp chuẩn) với những nội dung cụ thể của từng phƣơng pháp. Phương pháp chuẩn xác định trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu Trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu trƣớc hết phải là giá trị giao dịch của hàng hóa đó, tức là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa khi hàng hóa đƣợc bán để xuất khẩu đến nƣớc nhập khẩu.
Trên thực tế giá giao dịch có thể có nhiều loại (FOB,CIF…), trong những loại giá này không thể bao hàm hết những chi phí mà ngƣời nhập khẩu thực sự phải trả hoặc đã trả. Vì vậy để đảm bảo tính công bằng khi xác định giá trị tính thuế hàng hóa nhập khẩu, GATT đã quy định cụ thể các loại chi phí phải cộng vào trị giá tính thuế. Cụ thể các khoản phải cộng bao gồm: - Chi phí hoa hồng và môi giới; - Chi phí bao bì gắn liền với hàng hóa nhập khẩu, gồm: giá mua bao bì, các chi phí liên quan đến việc mua bán và vận chuyển bao bì đến địa điểm đóng gói, bảo quản hàng hóa. - Chi phí đóng gói, kể cả chi phí vật liệu và chi phí nhân công; - Các khoản trợ giúp, giảm giá: Giá trị đƣợc phân bổ thích hợp của những hàng hóa và dịch vụ dƣới đây do ngƣời mua cung cấp trực tiếp hay gián tiếp, miễn phí hoặc giảm giá để sử dụng trong sản xuất và bán để xuất khẩu hàng nhập khẩu, trong phạm vi giá trị này chƣa đƣợc tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán: + Nguyên vật liệu, bộ phận cấu thành hàng hóa, các phụ tùng và các hàng hóa tƣơng tự hợp thành trong hàng hóa nhập khẩu; + Các công cụ, khuôn đúc, khuôn rập và các hàng hóa tƣơng tự đƣợc sử dụng trong sản xuất hàng nhập khẩu; + Nguyên vật liệu tiêu hao trong hoạt động sản xuất hàng nhập khẩu; 10 + Thiết kế kỹ thuật, thiết kế triển khai, thiết kế mỹ thuật, bản vẽ thiết kế và các sơ đồ và phác đồ đƣợc lập ra ở bất cứ nơi nào ngoài nƣớc nhập khẩu và cần thiết cho hoạt động sản xuất hàng nhập khẩu; - Tiền bản quyền và phí giấy phép liên quan đến hàng hóa đƣợc xác định giá trị; những chi phí này do ngƣời mua phải trả, trực tiếp hay gián tiếp, nhƣ điều kiện cho giao dịch bán hàng hóa đang đƣợc xác định giá trị, trong phạm vi các chi phí này chƣa đƣợc tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán; - Các khoản tiền mà ngƣời nhập khẩu phải trả từ số tiền thu đƣợc sau khi bán hàng lại; - Chi phí vận tải và chi phí có liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa nhập khẩu đến cửa khẩu nhập đầu tiên (Trừ chi phí bốc, xếp, dữ hàng từ phƣơng tiện vận tải xuống cửa khẩu nhập đầu tiên).
- Chi phí bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu đến cửa khẩu nhập đầu tiên. Các khoản phải cộng trên phải là chi phí mà ngƣời mua phải thanh toán và chƣa đƣợc tính trong trị giá thực tế sẽ phải thanh toán, có số liệu khách quan, định lƣợng đƣợc, chứng từ phù hợp. Trƣờng hợp hàng hóa có các khoản phải cộng nhƣng không có chứng từ, không có số liệu cụ thể khách quan thì không đƣợc xác định trị giá tính thuế theo phƣơng pháp trị giá giao dịch mà phải chuyển sang phƣơng pháp tiếp theo. Bên cạnh đó, WTO cũng quy định rõ, ngoài các khoản phải cộng nêu trên, khi xác định trị giá tính thuế không đƣợc cộng thêm bất cứ khoản nào khác.
Mặc dù phƣơng pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu là phƣơng pháp các nƣớc thành viên WTO bắt buộc phải áp dụng, xem xét trƣớc hết nhƣng vẫn cho phép Hải quan các nƣớc nhập khẩu, nếu đủ cơ sở vẫn đƣợc nghi ngờ giá giao dịch là không chính xác, đƣợc yêu cầu ngƣời khai phải chứng minh và đƣợc áp dụng các phƣơng pháp thay thế khác trong trƣờng 11 hợp không đủ điều kiện áp dụng trị giá giao dịch. Tuy nhiên để đảm bảo rằng Hải quan không lạm dụng quyền này để tùy tiện từ chối dùng phƣơng pháp tính thuế theo giá giao dịch, WTO đã quy định những điều kiện và tình huống cụ thể mà Hải quan đƣợc phép không công nhận trị giá giao dịch. Đó là: - Không có hành vi mua bán. Ví dụ giao dịch hàng đổi hàng, chuyển hàng từ các đơn vị khác nhau của cùng một công ty… - Khi có những hạn chế đối với ngƣời mua về việc bán hoặc sử dụng hàng hóa đó, trừ các trƣờng hợp hạn chế do luật pháp hay các cơ quan có thẩm quyền tại nƣớc nhập khẩu áp đặt, hoặc yêu cầu (ví dụ pháp luật yêu cầu về bao bì cho lƣu thông hàng hóa); Giới hạn về khu vực địa lý tại đó hàng hóa đƣợc bán nhƣợng lại (ví dụ hợp đồng quy định chỉ đƣợc phân phối hàng hóa đó trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam); hoặc những hạn chế không ảnh hƣởng đáng kể đến giá trị của hàng hóa (ví dụ đối với loại hàng hóa mới, điều khoản hợp đồng quy định không đƣợc bán hàng hóa đó trƣớc một thời điểm nhất định).
- Khi hoạt động bán hàng, hay giá cả, phải phụ thuộc vào một số điều kiện mà từ đó ngƣời ta không thể xác định đƣợc giá trị của những hàng hóa cần đƣợc xác định giá trị. Ví dụ nếu ngƣời bán định giá giao dịch với điều kiện ngƣời mua cũng phải nhập một loại hàng hóa khác với số lƣợng nhất định. - Sau khi tiếp tục bán lại, chuyển nhƣợng hoặc sử dụng hàng nhập khẩu, ngƣời nhập khẩu phải chuyển bất cứ một khoản tiền nào đó từ doanh thu mà họ đạt đƣợc, dù là trực tiếp hay gián tiếp, cho ngƣời bán. - Ngƣời mua và ngƣời bán có quan hệ đặc biệt với nhau, và giá cả bị ảnh hƣởng bởi mối quan hệ đó.
Ví dụ nếu ngƣời bán và ngƣời mua là công ty mẹ-con- chi nhánh của công ty xuyên quốc gia và mối quan hệ này có ảnh hƣởng đến giá hàng hóa. Phương pháp thay thế WTO quy định 05 phƣơng pháp tính thuế hải quan thay thế trong trƣờng hợp Hải quan có nghi ngờ về trị giá giao dịch và quyết định không thừa nhận giá khai báo của doanh nghiệp là giá tính thuế. Các phƣơng pháp này đƣợc áp dụng một cách tuần tự, lần lƣợt. Khi không áp dụng đƣợc phƣơng pháp trƣớc mới áp dụng phƣơng pháp sau.