Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA LÂM ĐỒNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Điều kiện tự nhiên Lâm Đồng là một tỉnh miền núi ở Nam Tây Nguyên, nằm giữa tọa độ 11 - 130 vĩ Bắc và 107 - 1090 kinh Đông, cách bờ biển phía Đông 110 km; phía Đông và Nam giáp các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; phía Tây và Bắc giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Đắc Lắc. Trong số các đơn vị hành chính cấp tỉnh hiện nay, từ đồng bằng Thanh - Nghệ trở vào đồng bằng sông Cửu Long, Lâm Đồng là tỉnh duy nhất có lãnh thổ nằm trọn trong miền nội địa của đất nước, không có đường biên giới quốc gia, không có bờ biển [46, tr.
Vị trí địa lý như vậy đã tạo cho Lâm Đồng có vị trí chiến lược quan trọng: là điểm nối tiếp giữa Nam Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn bằng đường quốc lộ 20, đường số 8 và đường xe lửa Đà Lạt - Tháp Chàm. Vì thế, trước đây thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã xây dựng Lâm Đồng trong thế chiến lược liên hoàn nhằm bảo vệ từ xa cơ quan đầu não của chúng ở Sài Gòn, đồng thời, làm bàn đạp để đánh phá phong trào cách mạng các tỉnh cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên [1, tr. Tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 976.274 ha, chiếm trên 3% diện tích cả nước, trong đó, đất rừng chiếm 70%. Trữ lượng gỗ các loại trên 30 triệu m3, có trên 130.000 ha rừng thông thuần chủng, trên 150.000 ha rừng tre nứa.
Đây là vùng nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp địa phương và khu vực. Đất có khả năng làm nông nghiệp trên 200.000 ha, chủ yếu là đất đỏ bazan và hơn 50.000 ha đất phù sa bồi tụ, thích hợp cho 8 việc phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, sản xuất lương thực, thực phẩm và chăn nuôi gia súc [54, tr. Ngoài tiềm năng để phát triển thủy điện rất đáng kể, Lâm Đồng còn là vùng giàu tài nguyên khoáng sản (như bô xít, thiếc, cao lanh, than, đá quý, vàng. Sự tác động cộng hưởng của bức xạ mặt trời, hoàn lưu khí quyển và vị trí địa lý cùng địa hình đã hình thành ở Lâm Đồng một kiểu khí hậu đặc biệt: nhiệt đới gió mùa vùng sơn cao nguyên.
Khí hậu ở Lâm Đồng có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình từ 160C đến 230C; lượng mưa từ 1. Lâm Đồng có hệ thống giao thông tương đối thuận tiện, các quốc lộ 8, 20, 21, 27 nối liền với các tỉnh duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh. Đường ô tô đã đến trung tâm các huyện và nhiều xã trong tỉnh.
Tuy nhiên, ở một số xã vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, việc đi lại của đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong mùa mưa. Nhờ vị trí địa lý, địa hình, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và khí hậu ôn hòa, dịu mát quanh năm mà Lâm Đồng - Đà Lạt đã sớm trở thành một trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng của cả nước và quốc tế. Bên cạnh đó, Lâm Đồng còn có tầm quan trọng cả về chính trị, kinh tế và an ninh - quốc phòng. Để hình thành địa giới hành chính của một tỉnh như hiện nay, Lâm Đồng đã trải qua một quá trình lịch sử đầy biến động, nhiều thay đổi, tách, nhập ở từng thời kỳ khác nhau.Trước năm 1899, vùng đất Lâm Đồng ngày nay thuộc hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận.
Ngày 1-1-1899, Toàn quyền Paul Doumer ký quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hai trạm hành chính: Tánh Linh, cao nguyên Lang Bian. Năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, vùng đất này lại trực thuộc tỉnh Bình Thuận. 9 Ngày 6-1- 1916 Toàn quyền E. Roume ký quyết định thành lập tỉnh Lang Bian.
Ngày 24- 4-1916, Hội đồng nhiếp chính vua Duy Tân ra dụ thành lập tại vùng Lang Bian trung tâm đô thị Đà Lạt. Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng lại được tái lập gồm ba quận: Djiring (Di Linh), Blao, Dran. Tỉnh lỵ đóng tại Djiring. Thị xã Đà Lạt, nơi nghỉ mát của người Pháp, được thành lập.
Cũng trong năm đó, Bảo Đại lập khu tự trị Lâm Viên (bao gồm cả Đà Lạt). Năm 1941, tỉnh Lâm Viên được thành lập, Đà Lạt được chọn làm tỉnh lỵ. Ngày 23-8-1945, nhân dân Lâm Viên khởi nghĩa giành chính quyền. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời và Ủy ban Việt Minh tỉnh Lâm Viên và tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập.
Để thống nhất sự chỉ đạo đối với các tỉnh cực Nam Trung Bộ, theo đề nghị của Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ, ngày 22-2-1951, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị định số 73-TTg hợp nhất hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng [46, tr. Năm 1958, Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Lâm Đồng (gồm quận Di Linh, Blao) và tỉnh Tuyên Đức (gồm thị xã Đà Lạt và ba quận: Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương). Năm 1966, Đà Lạt được tách khỏi tỉnh Tuyên Đức, trực thuộc chính quyền Trung ương. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện Nghị quyết số 245-NQ/ TW ngày 20-9-1975 của Bộ Chính trị về việc bỏ khu, hợp tỉnh và Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 20-12-1975 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam; tháng 12-1976, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể khu hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam.
Theo Nghị định này, ở miền Nam có 21 đơn vị hành chính, trong đó Lâm Đồng và Tuyên Đức hợp nhất lại và lấy tên là tỉnh Lâm Đồng [44, tr. 10 Hiện nay, tỉnh Lâm Đồng chia thành 11 đơn vị hành chính gồm các huyện Đức Trọng, Di Linh, Lâm Hà, Lạc Dương, Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên, Bảo Lâm, Đơn Dương, thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt. Thành phố Đà Lạt - tỉnh lỵ Lâm Đồng là thành phố du lịch, nghỉ dưỡng nổi tiếng của Việt Nam và là trung tâm chính trị, văn hóa của tỉnh. Về dân số, theo điều tra đầu năm 1999, toàn tỉnh Lâm Đồng có 996.745 người, trong đó, dân tộc thiểu số là 233.424 người; số người theo các tôn giáo là 591.701 người [56, tr.
Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 1. Điều kiện kinh tế Nền kinh tế cổ truyền của các dân tộc thiểu số dựa vào thiên nhiên và mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc. Phương thức canh tác phổ biến là phát rẫy, chọc, tỉa. Sau vài ba năm, đất cằn cỗi, họ bỏ hoang, đi phát nương nơi đất mới.
Hình thái kinh tế chiếm đoạt gắn với săn bắn và hái lượm vẫn có vai trò nhất định trong đời sống kinh tế gia đình. Ngoài ra, các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng còn có nghề dệt vải, thổ cẩm, đan lát đồ mây, tre, cói; rèn nông cụ, vũ khí truyền thống. Bảo tồn và phát huy truyền thống canh tác của cư dân nông nghiệp lâu đời. Khi di cư đến Lâm Đồng, cộng đồng người Kinh tiếp tục trồng lúa nước, thâm canh hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, rau ôn đới, trồng hoa, dâu tằm và cây dược liệu.
Đây là nguồn thu nhập chính của cư dân người Kinh. Cùng với trồng trọt, các nghề thủ công nghiệp nhỏ (như nghề mộc, rèn, thêu, đan); thương nghiệp - dịch vụ du lịch ở Đà Lạt và thị xã Bảo Lộc cũng phát triển. Sau ngày giải phóng, nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thu được những thành tựu nhất định. Về nông nghiệp: đã thực hiện chủ trương khôi phục các ngành sản xuất chính, như: chè, rau, mở rộng diện tích cây lương thực, thực phẩm; tiến hành khai 11 hoang, phục hóa; các phong trào làm thủy lợi, trồng rừng, định canh, định cư cho đồng bào dân tộc.
được phát động. Về công nghiệp: khôi phục các ngành công nghiệp quan trọng như sản xuất nấm, tơ tằm, chè, cà phê. Bước sang thời kỳ đổi mới, Lâm Đồng có nhiều bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế. Thời kỳ 1990 - 1995, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng gần 13% [46, tr.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực; các tiềm năng, thế mạnh được khai thác. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển, xuất - nhập khẩu được khuyến khích, đẩy mạnh hợp tác đầu tư với nước ngoài. Nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện trên cơ sở phát huy thế mạnh về cây công nghiệp dài ngày, rau, hoa quả đặc sản theo hướng đầu tư thâm canh; đất đai được sử dụng có hiệu quả, hình thành nhiều vùng chuyên canh. Bộ mặt nông thôn thay đổi, số hộ giàu và trung bình chiếm tỷ lệ trên 80%.
Vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc được quan tâm đầu tư phát triển. Lâm nghiệp được phát triển trên cơ sở bảo vệ tài nguyên và phát triển vốn rừng; công tác trồng, chăm sóc rừng được ưu tiên. Quản lý bảo vệ rừng, định canh, định cư cho đồng bào dân tộc được thực hiện. Công nghiệp tăng với tốc độ cao, sản phẩm đa dạng.
Nhiều sản phẩm mới được sản xuất (như lụa, hàng đan len, cà phê, nhân hạt điều, thiếc tinh, nấm. Chất lượng các sản phẩm được nâng lên và tìm được thị trường tiêu thụ khá ổn định, như chè xuất khẩu, tơ tằm. Giá trị xuất khẩu từ công nghiệp chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu. Cơ sở vật chất kỹ - thuật hạ tầng được tập trung xây dựng, đáp ứng phần lớn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Mạng lưới điện đã đến được 80% số xã; đường giao thông mở đến tất cả các khu dân cư. Nước sạch được cấp cho trên 50% số dân; mạng lưới bưu chính viễn thông phủ kín đến tất cả các xã trong tỉnh và được đầu tư ngày càng hiện đại. Các công 12 trình thủy lợi tại các vùng nông nghiệp trọng điểm được xây dựng và phát huy có hiệu quả [46, tr. Trên bước đường xây dựng kinh tế, tỉnh Lâm Đồng gặp không ít trở ngại.
Cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa chưa được phát triển. Riêng 27 xã đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn; nạn đói giáp hạt vẫn còn xảy ra ở một số nơi.