Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. NHỮNG KHAI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1. Tín ngưỡng - Tín ngưỡng là vấn đề được nhiều nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới nghiên cứu với nhiều công trình có giá trị, tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, tín ngưỡng được hiểu và phân ra hai loại với sự khác nhau về tính chất và nguồn gốc, đó là tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo.
Tín ngưỡng dân gian là hình thức tín ngưỡng hình thành, tồn tại lâu đời, mang tính truyền thống trong xã hội, thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn trọng, thờ cúng thế hệ trước như tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người có công với đất nước, vùng miền, địa phương, các vị thần đất, thần sông, thần núi,. Các hoạt động tín ngưỡng dân gian đã mang lại nhiều giá trị lịch sử, truyền thống, văn hoá, đạo đức, nghĩa cử nhân văn, tốt đẹp rất đáng trân trọng. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tại Khoản 1, Điều 2 nêu rõ: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Rõ ràng, tín ngưỡng dân gian là đạo lý, có những điểm gần với tôn giáo nhưng tín ngưỡng dân gian không phải là tôn giáo, nhận định này sẽ được làm sáng rõ hơn khi đi vào phân tích khái niệm tôn giáo tiếp theo.
Khái niệm tín ngưỡng tôn giáo được hiểu là việc tin theo một tôn giáo nào đó hay tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin của con người vào những điều thiêng liêng, huyền bí, vượt khỏi thế giới tự nhiên, bản thân người tin biết là có chứ không chứng minh được việc có thật hay không. Như vậy, tín ngưỡng tôn giáo 8 là việc tin, sùng một tôn giáo (đạo) nào đó, đối tượng được sùng bái, thờ cúng của người mộ đạo đối với một “giáo chủ”, đây là nguồn gốc của tôn giáo. Do đó, cả hai khái niệm tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo đều có điểm chung là việc có niềm tin, tôn thờ một “thế giới bên kia” khác với thế giới thực tại mà con người đang sống. Những mặt khác nhau của hai khái niệm tín ngưỡng dân gian và khái niệm tín ngưỡng tôn giáo ở nguồn gốc hình thành, bản chất và vai trò của nó đối với đời sống xã hội.
- Hoạt động tín ngưỡng, theo Khoản 2, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì “hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”[46, tr. Mê tín, dị đoan Khi nói đến mê tín, dị đoàn người ta thường nghỉ ngày đến việc tin vào những điều mơ hồ, nhảm nhí, không phù hợp với lẽ tự nhiên như: bói toán, chữa bệnh bằng phù phép. dẫn tới hậu quả xấu cho cá nhân, gia đình, cộng đồng về sức khoẻ, thời gian, tài sản, tính mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mê tín dị đoan là tệ nạn đồng bóng, bói toán, cầu trời, cầu đảo, rước sách quá linh đình, cúng bái xa xỉ, tốn kém của nhân dân.
Người chỉ rõ nguyên nhân mê tín, dị đoan: Trước hết, là những hủ tục do chế độ thực dân, phong kiến để lại. Ở miền núi đang còn nhiều phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại như: ma chay, cúng bái rất tốn kém, cưới vợ, gả chồng quá sớm; vệ sinh phòng bệnh còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xoá bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong. Hai là, mê tín dị đoan là do trình độ dân trí quá thấp, không phân biệt được đúng sai trong những luận điệu tuyên truyền nhảm nhí của một số kẻ đầu cơ trục lợi.
Để loại bỏ mê tín, dị đoan phải nâng cao trình độ học vấn… 9 Ba là, mê tín, dị đoan là tệ nạn do “một số người đồng bóng lạc hậu mê tín bị những kẻ xấu lợi dụng để xoay tiền”. Để khắc phục tệ nạn mê tín dị đoan, theo Hồ Chí Minh phải đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn hoá mới, xây dựng thuần phong mỹ tục. Phải nghiên cứu cho rõ phong tục mọi nơi trước là để gây cảm tình và sau là để dần dần giải thích cho họ hết mê tín. Cán bộ, đảng viên không xúc phạm đến phong tục, tín ngưỡng của nhân dân, phải tuyệt đối tôn trọng niềm tin tôn giáo của quần chúng.
Theo Giáo trình Quản lý nhà nước (QLNN) về tôn giáo và dân tộc của Khoa QLNN về xã hội thuộc Học viện Hành chính quốc gia thì: “Mê tín, dị đoan là hai khái niệm thường được dùng cặp đôi trong Tiếng Việt, để chỉ một niềm tin mù quáng như: bói toán, đồng cốt, gọi hồn, những điểm lạ…và coi đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực xã hội; là những gì trái với lợi ích của xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội”[17, tr. Như đã phân tích nêu trên, ta có thể hiểu các hành vi mê tín dị đoan trong đời sống xã hội vô cùng đa dạng. Có những hành vi theo quan niệm cá nhân và có những hành vi theo quan niệm của một nhóm người, một địa phương, một vùng hoặc một cộng đồng dân tộc. Có thể nói mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội xuất hiện ở mọi nơi.
Mê tín, dị đoan là một hiện tượng phản văn hóa nên cũng là một hiện tượng phản khoa học. Tôn giáo Tôn giáo là một khái niệm, định nghĩa mà từ trước đến nay có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học đề cập, tiếp cận dưới những gốc độ, khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung các khái niệm, định nghĩa về tôn giáo đều có những điểm tương đồng nhất định. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo: 10 Các nhà thần học cho rằng: “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”. Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”.
Một số nhà tâm lý học lại cho rằng: “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”. Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”[12, tr. Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”[13, tr. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên và cho rằng lực lượng siêu nhiên này quyết định cuộc sống của họ.
Đồng thời, với niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên nó thể hiện sự bất lực của con người trước tồn tại xã hội đã sinh ra nó. Từ gốc độ khoa học tổ chức, tôn giáo được xem là tổ chức có cơ cấu chặt chẽ với hệ thống chức sắc là những người lãnh đạo chuyên nghiệp, có lực lượng đông đảo tín đồ là những người tin theo tôn giáo đó, có nơi để hành đạo, có hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ chặt chẽ. Mỗi tôn giáo có tên riêng, gắn với các thần tượng có thật (hay tưởng tượng) để tôn thờ như Phật giáo (Phật Thích Ca), Công giáo, Tin Lành (Chúa Giê su), Phật giáo Hoà Hảo (Đức Huỳnh Giáo chủ- Huỳnh Phú Sổ), Cao Đài (Ngọc hoàng Thượng đế),. hoạt động tôn giáo nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của người có đạo.
11 Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể được thể hiện ở Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 nêu rõ: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”[46, tr. Như vậy, rất khó có thể đưa ra khái niệm hay định nghĩa tôn giáo một cách hoàn chỉnh, được mọi người, mọi nhà nghiên cứu, nhà khoa học công nhận với đầy đủ gốc độ, khía cạnh khác nhau, nhưng có thể khẳng định tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, đề cập đến tôn giáo là nói đến hoạt động của con người, trong đó thể hiện mối quan hệ giữa hai thế giới thực tế và hư ảo, của hai tính trần tục và thiêng liêng, trong đó lực lượng siêu nhiên, siêu phàm chi phối đời sống vật chất và tinh thần hàng ngày của con người (tín đồ). Hoạt động tôn giáo Có tôn giáo là có hoạt động tôn giáo, hoạt động tôn giáo để duy trì sự tồn tại và phát triển của tôn giáo. Hoạt động tôn giáo là tiến hành việc đạo, theo một giáo luật, giáo lý, giáo lễ của một tôn giáo cụ thể; được hướng dẫn bởi người có chức năng, nhiệm vụ hướng dẫn hay việc tự hành lễ của tín đồ, diễn ra tại nơi thờ tự hay tại tư gia của tín đồ.
Theo pháp luật Việt Nam, tại Khoản 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 đã ghi rõ khi đề cập đến khái niệm hoạt động tôn giáo: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo” [46, tr. Hoạt động truyền bá tôn giáo là tuyên truyền những lý lẽ về nguồn gốc, sự ra đời, luật lệ của các tổ chức tôn giáo. Thông qua những hoạt động truyền giáo, niềm tin đối với các tín đồ được củng cố và các giáo luật được thực hiện. Đối với những tín đồ mới tham gia hay với những người chưa phải tín đồ thì các hoạt động truyền bá tôn giáo còn với mục đích giúp họ hiểu, tin, theo tôn giáo và gia tăng về số lượng các tín đồ.
12 Sinh hoạt tôn giáo là việc bài tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo. Sinh hoạt tôn giáo được hiển là hoạt động của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thoả mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ.