phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 03 chương 10 tiết. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO 1. NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm Tôn giáo: Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở đức tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ, tôn giáo nảy sinh rất sớm từ trong xã hội nguyên thủy.
Tôn giáo “religion”, nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên, trên một cách thức nào đó giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên, từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người, đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục. Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh. Con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo.
Trong nghĩa tổng quát nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế những tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học. Tôn giáo trong đời sống xã hội từ xưa đến nay rất nhiều, nhưng hiện nay chỉ có một số tôn giáo lớn, có số tín đồ đông như: Islam giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo,. Đôi khi từ “tôn giáo” cũng được dùng để chỉ tổ chức tôn giáo, một tổ chức gồm nhiều cá nhân cùng chung tín ngưỡng và việc thờ phụng, thường tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân.
Trong tính đa dạng của tôn giáo hiện nay có 9 nhiều quan niệm về tôn giáo và những tiêu chí xác định tôn giáo cụ thể cũng rất khác nhau, theo tôi, để xác định một tôn giáo cụ thể phải đảm bảo năm yếu tố, như: Giáo chủ, giáo lý (lý thuyết tính thiêng), giáo luật, giáo lễ, nghi lễ, giáo hội, giáo dân. Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ảnh niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên và cho rằng lực lượng siêu nhiên này quyết định cuộc sống của họ. Đồng thời với niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên, nó thể hiện sự bất lực của con người trước tồn tại xã hội đã sinh ra nó. Từ góc độ khoa học tổ chức, tôn giáo được xem là tổ chức có cơ cấu chặt chẽ với hệ thống chức sắc là những người lãnh đạo chuyên nghiệp, có lực lượng đông đảo tín đồ là những người tin theo tôn giáo đó, có nơi để hành đạo, có hệ thống giáo lý, giáo luật, giáo lễ chặt chẽ.
Mỗi tôn giáo có tên riêng, gắn với các thần tượng có thật (hay tưởng tượng) để tôn thờ như Phật giáo (Phật Thích Ca), Công giáo, Tin lành (Chúa Giê su), Phật giáo Hòa Hảo (Đức Huỳnh Giáo chủ - Huỳnh Phú Sổ), Cao Đài (Ngọc Hoàng Thượng đế). hoạt động tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người có đạo. Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể được thể hiện ở Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo nêu rõ: “tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức thành một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận” [97]. Như vậy, rất khó có thể đưa ra khái niệm hay định nghĩa tôn giáo một cách hoàn chỉnh, được mọi người, mọi nhà nghiên cứu, khoa học công nhận với đầy đủ gốc độ, khía cạnh khác nhau, nhưng có thể khẳng định tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, một bộ phân kiến thúc thượng tầng, đề cập đến tôn giáo là nói đến hoạt động của con người, trong đó thể hiện mối quan hệ giữa hai thế giới thực tế và hư ảo, của hai tính trần, tục và thiêng liêng, trong đó lực lượng siêu 10 nhiên, siêu phàm chi phối đời sống vật chất và tinh thần hằng ngày của con người (tín đồ).
Tổ chức tôn giáo: là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận [98, tr. Những người cùng chung một tôn giáo, có Hiến chương, Điều lệ, có tôn chỉ, mục đích phù hợp với thuần phong mỹ tục và được Nhà nước phê duyệt. Tín đồ: là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận [98, tr. Nhà tu hành: là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo [98, tr.
Chức sắc tôn giáo: là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo [98, tr. Tự do tôn giáo: Tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo, thường được coi là một nguyên tắc của quyền tự do cá nhân hay cộng đồng trong việc thực hành, thờ phụng, rao giảng, hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng. Khái niệm này thường được thừa nhận là bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do không theo một tôn giáo nào. Tại nhiều quốc gia, tự do tín ngưỡng được coi là một quyền cơ bản của con người.
Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền định nghĩa tự do tín ngưỡng như sau: Mỗi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tín ngưỡng; quyền này bao gồm tự do thay đổi tín ngưỡng và tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình một cách cá nhân hoặc công khai trong việc rao giảng, thực hành, thờ phụng, và tu tập. Tại một quốc gia có quốc giáo, tự do tín ngưỡng thường được hiểu là chính phủ cho phép thực hành các hoạt động của các tôn giáo khác với quốc giáo và không đàn áp các tín đồ thuộc các tôn giáo khác. 11 Quyền tự do tôn giáo: nếu xét theo ngữ nghĩa và hiểu theo nghĩa đơn giản, “tự do tôn giáo” là sự bảo đảm tính độc lập của tôn giáo đối với các thiết chế quyền lực, bảo đảm tôn giáo thoát ly mọi sự cấm đoán, hạn chế, ràng buộc. Nếu nhìn nhận dưới góc độ triết học thì khái niệm tự do phải được xem xét trong mối quan hệ với tất yếu.
Điều 1 và 2 tại Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo Nước ta (2004) chỉ rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật”.
Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau. Chức sắc, nhà tu hành và công dân có tín ngưỡng, tôn giáo được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân. Chức sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ về lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật. Phật giáo và đạo Phật Phật giáo là tôn giáo ra đời cách đây hơn 2.500 năm tại Ấn Độ, do Thái tử Tất Đạt Đa sáng lập.
Nội dung cơ bản của Phật giáo tập trung ở Ba bộ kinh, người Phật giáo thường gọi là Tam tạng kinh – Tripitaka, gồm: Kinh tạng (Sutra pitaka), Luật tạng (Vinaya pitaka) và Luận tạng (Abhidhamma pitaka). Trong quá trình phát triển, Phật giáo đã chia thành nhiều hệ phái, tông phái, sơn môn khác nhau. Về tổ chức, Phật giáo không có tổ chức chung trên toàn thế giới, mà tổ chức theo từng tông phái hoặc mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Phật giáo được du nhập từ đầu Công nguyên.
Thời kỳ Bắc thuộc, ảnh hưởng nổi bật nhất của Phật giáo đối với Nhân dân ta là đã khích lệ tư tưởng giành độc lập, chủ quyền lãnh thổ, quốc gia; đồng thời củng cố đạo đức, lối sống và đoàn kết cộng đồng dân tộc. Giai đoạn Đất nước độc lập, Phật giáo rất có điều kiện phát triển, nhất là vào thời kỳ các triều đại nhà Ngô, Đinh và 12 Tiền Lê, Lý - Trần, Phật giáo có vai tr rất quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị đương thời. Vậy, Phật giáo được hiểu theo nghĩa như thế nào. Phật giáo và đạo Phật là hai danh từ quen thuộc, ít được phân biệt, tuy nhiên về bản chất có khác nhau.
Đạo, theo từ Hán nghĩa đen là con đường hay đường đi, nghĩa bóng mang khái niệm trừu tượng về con đường, phương hướng, đường lối dẫn dắt con người đi đến mục tiêu hay lý tưởng nào đó. Cùng với nghĩa Phật, được phiên âm từ Buth của tiếng Phạn, nghĩa là Giác ngộ, thì Đạo Phật được hiểu là con đường giác ngộ. Giáo theo nghĩa chữ Hán là giáo lý, sự dạy dỗ để đưa con người đi đến mục tiêu hay lý tưởng nào đó. Cùng với nghĩa Phật là giác ngộ, thì Phật giáo nghĩa là sự giáo dục, dạy dỗ để đưa con người đến sự giác ngộ.
Trong khi Phật giáo là tên gọi tổng quát để chỉ cho một tôn giáo, tức là cả một hệ thống, gồm giáo chủ, giáo lý, giáo lễ, giáo luật. thuộc phạm vi khách quan, có tính phổ quát trên toàn thế giới; thì từ Đạo Phật được thu hẹp nghĩa hơn và chỉ lưu hành trong phạm vi của một quốc gia hay nhìn xa hơn thuộc về phạm vi chủ quan của từng cá nhân. Do đó, chúng ta có thể nói rằng Phật giáo là chỉ cho cái chung của một tôn giáo về chiều rộng, c n Đạo Phật phải đ i hỏi ở sự thực hành thuộc về chiều sâu hơn. Tuy nhiên, trong các văn bản của Nhà nước hiện nay, không phân biệt Phật giáo với Đạo Phật, nên trong luận văn này, từ đạo Phật được dùng đồng nghĩa với Phật giáo và ngược lại.
Hoạt động tôn giáo: Có tôn giáo là có hoạt động tôn giáo, hoạt động tôn giáo để duy trì sự tồn tại và phát triển của tôn giáo.