mở đầu vào thế kỷ XV Ngân hàng đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1401 "Ngân hàng Barcelone"; sau đó là "Ngân hàng Valance" năm 1409 đều của Tây Ban Nha. Đến thời kỳ phục hưng ở Châu Âu nền thương mại phát triển, nhất là thương mại với phương đông, các thương gia nhận thấy rằng cần có những cơ quan chuyên môn để giải quyết những vấn đề liên quan đến việc tài trợ nền thương mại, nên họ xúc tiến việc tổ chức các cơ quan chuyên nghiệp về Ngân hàng theo đúng nghĩa "Ngân hàng" đó là Ngân hàng Realto (Áo) năm 1587, Ngân hàng Amsterdam (Hà Lan) năm 1609, Ngân hàng Humboug (Đức) năm 1619, Ngân hàng Anh quốc năm 1694. Mặt khác các Ngân hàng ra đời hoạt động lại tác động trở lại sản xuất lưu thông hàng hoá bằng những ưu thế vốn có của nó là vốn và công nghệ Ngân hàng. Giai đoạn đầu các Ngân hàng còn hoạt động độc lập chưa tạo thành hệ thống, mồi Ngân hàng đều làm nhiệm vụ như nhau, nhưng đến thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 20 nền sản xuất hàng hoá được mở rộng cả về quy mô và phạm vi, nhờ kỹ thuật công nghệ phát triển mà các Ngân hàng đều mở rộng quy mô phát hành giấy bạc riêng rẽ, gây không ít trở ngại cho quá trình lưu thông hàng hoá.
Chính vì vậy Nhà nước đã phải can thiệp vào lĩnh vực Ngân hàng bằng cách ban hành các đạo luật nhằm hạn chế số lượng các Ngân hàng được phép 5 phát hành. Do đó đã hình thành 2 hệ thống Ngân hàng - Một hệ thống Ngân hàng không được phép phát hành đó là Ngân hàng trung gian - Một hệ thống là các Ngân hàng được phép phát hành gọi là Ngân hàng phát hành. Đen đầu thế kỷ XX phần lớn các nước phát triển đã thực hiện cơ chế một Ngân hàng độc quyền phát hành, tuy nhiên các Ngân hàng này vẫn thuộc quyền sở hữu tư nhân. Điều đó gây khó khăn cho Nhà nước về can thiệp một cách thường xuyên các hoạt động kinh tể thông qua tác động của tiền tệ.
Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 - 1933 đã buộc Chính phủ các nước phải nắm lấy một phương tiện cơ bản của kinh tế thị trường đó là tiền tệ để can thiệp giải quyết những bất ổn trong phát triển kinh tế. Khâu cơ bản là nắm lấy Ngân hàng phát hành để điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô, một loạt các nước đã tiến hành Quốc hữu hoá các Ngân hàng phát hành hoặc thành lập các Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước. Các Ngân hàng phát hành duy nhất của mồi nước trở thành công cụ của Nhà nước thực hiện cả chức năng phát hành tiền vào lưu thông và chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ - Ngân hàng, điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm ổn định tiền tệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, quản lý quỹ dự trữ Quốc gia - Ngân hàng phát hành trở thành NHTW. Chức năng của Ngăn hàng Trung ương Mục đích hoạt động của NHTW là nhằm ổn định giá trị đồng tiền, ngoài ra một số NHTW còn có mục tiêu góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng.
Để đạt được mục đích này NHTW hoạt động theo các chức năng, nhiệm vụ sau: * Ngân hàng T rung ương là Ngân hàng phát hành tiền Tiền trong lưu thông bao gồm nhiều loại khác nhau như giấy bạc Ngân hàng, tiền đúc, bút tệ. Trong đó giấy bạc Ngân hàng là do NHTW phát hành, tiền đúc có thể do NHTW hoặc Kho bạc Nhà nước, bút tệ được tạo ra từ các Ngân hàng thương mại nhưng đặt dưới sự điều tiết của NHTW. Như vậy 6 NHTW là cơ quan độc quyền phát hành giấy bạc Ngân hàng. Trong khối lượng tiền tệ cung ứng giấy bạc Ngân hàng tuy không phải là khối lượng tiền lớn nhất nhưng nó lại là yếu tổ quyết định chi phối các khối lượng tiền tệ khác.
Chính loại tiền này đã tạo cho NHTW đóng vai trò quyết định trong điều hoà lưu thông tiền tệ. Trong lưu thông tiền thực và giấy bạc được chuyển đổi ra vàng thì khối lượng tiền tệ trong lưu thông được điều tiết một cách tự phát. Trái lại lưu thông giấy bạc Ngân hàng không được chuyển đổi do bản thân nó không tự điều tiết được khối lượng của mình. Vì vậy NHTW phải kiểm soát toàn bộ khối lượng tiền tệ cung ứng để đảm bảo đủ tiền cho lưu thông, đồng thời phải giữ vững sức mua của đồng tiền, làm tiền đề để thúc đẩy sản xuất - lưu thông hàng hoá.
NHTW điều tiết khối lượng tiền cung ứng thông qua việc phát hành tiền, cấp tín dụng và kiểm soát quá trình tạo tiền của các NHTM. * Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng của các Ngân hàng Đe thực hiện các vai trò quản lý Nhà nước, NHTW đã từ bỏ các quan hệ tiền tệ với các đơn vị kinh tế, cá nhân, mà các Ngân hàng trung gian đóng vai trò là khách hàng của NHTW trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - thanh toán và ngoại hối. Mối quan hệ này thể hiện qua các nghiệp vụ sau đây: - NHTW mở tài khoản và nhận tiền gửi của các Ngân hàng trung gian; tức là ngoài tiền gửi dự trữ bắt buộc mà các Ngân hàng trung gian phải gửi vào tài khoản tiền gửi phong toả tại NHTW, các Ngân hàng còn phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán và thường xuyên phải có đủ vổn để thực hiện các khoản thanh toán và chi trả. - Cho vay đối với Ngân hàng và tổ chức tín dụng: NHTW với tư cách là Ngân hàng của các Ngân hàng phải luôn đóng vai trò chủ nợ và là "người cho vay cuối cùng" đổi với các Ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Thực chất việc cấp tín dụng của NHTW được coi là nguồn cung cấp 7 cuối cùng, đồng thời để tạo ra khả năng thanh toán của nền kinh tế. - Một số NHTW thực hiện việc quản lý Nhà nước đổi với các Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác thông qua việc: + Cấp giấy phép hoạt động cho các Ngân hàng và tổ chức tín dụng. + Kiểm soát khối lượng tín dụng thông qua việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc. + Quy định các mức lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cơ bản.
+ Giám sát các hoạt động của các tổ chức tín dụng, tô chức kiếm tra, thanh tra định kỳ và đột xuất về chấp hành pháp luật. + Áp dụng các biện pháp chế tài như tăng tỷ lệ dự trừ bắt buộc, hạn chế hoặc cấm thi hành một số nghiệp vụ, thu hồi giấy phép hoạt động. đổi với các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác vi phạm pháp luật và nhũng quy định của NHTW. * Ngân hàng T ru n g ương là Ngân hàng của Chính phủ Chức năng này của Ngân hàng trung ương thể hiện ở những mặt sau: - Đa sổ Ngân hàng trung ương thuộc sở hữu Nhà nước.
- Ban hành các văn bản pháp quy theo thẩm quyền của mình về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và Ngân hàng, kiểm tra thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan. - Mở tài khoản và giao dịch với Kho bạc Nhà nước. - Làm đại lý cho Kho bạc Nhà nước. - Tổ chức thanh toán giữa kho bạc với các Ngân hàng.
- Cung cấp tín dụng và tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước trong những trường họp khẩn cấp [1]. Mô hình thanh tra, giám sát khu vực Ngân hàng Trong vài thập kỷ qua, chúng ta đã được chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, kèm theo đó là sự bùng nổ của xa lộ thông tin qua 8 Internet. Đây là nhân tố quan trọng tác động đến cấu trúc và độ sâu của khu vực Ngân hàng. Thích ứng vớỉ sự thay đổi mạnh mẽ môi trường hoạt động, hầu hết các nước đều tiến hành điều chỉnh hoặc cải cách lại hệ thống các cơ quan thanh tra, giám sát Ngân hàng (TTGSNH) của mình.
Theo Cuốn “Các nước giám sát các ngành Ngân hàng, bảo hiếm và chứng khoán của mình như thế nào”, Neil Courtis, 1999, Central Banking Publication thì trong số 123 nước được khảo sát có 89/123 (khoảng 3/4) quốc gia được khảo sát là trao quyền quản lý, giám sát Ngân hàng cho NHTW của mình. Một công trình nghiên cứu khác về “Cấu trúc, phạm vi và tính độc lập của Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng: Một sự so sánh quốc tế” của Daniel E. Nolle, 2003 cũng chỉ ra rằng: Trong mẫu khảo sát gồm 117 nước, có tới trên 3/4 các quốc gia trao trách nhiệm TTGSNH cho NHTW, trong đó có tới 64% các NHTW đóng vai trò là cơ quan giám sát Ngân hàng duy nhất; 12% các NHTW (bao gồm cả Hệ thống Dự trữ liên bang Mỹ - Fed) không phải là cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm về TTGSNH; 1/5 các quốc gia không trao trách nhiệm này cho NHTW. * Mô hình tách chức năng TTGSNH ra khỏi NHTW Trường phái áp dụng mô hình này cho rằng lĩnh vực tiền tệ và giám sát có thể phần nào chồng chéo nhau và chứa đựng nguy cơ xung đột tiềm ân.
Chẳng hạn, trong tình thế cần sử dụng đến phương sách cho vay cứu cánh cuối cùng đổi với những Ngân hàng đang gặp khó khăn về thanh khoản, NHTW có thể bơm vốn khả dụng vào hệ thống quá mức cần thiết. Bởi vậy, đe doạ đến sự ổn định tiền tệ. Sự xung đột về mục tiêu như thế còn có thể xảy ra trong lĩnh vực chính sách lãi suất. Việc hạ lãi suất điều hành là để giảm chi phí nguồn lực cho hệ thống Ngân hàng trong cơn khó khăn gay cấn tạm thời, nhưng những giải pháp về kiềm chế lạm phát, xét trên tổng thể nền kinh tế, có lẽ sẽ đòi hỏi 9 mức lãi suất cần được giữ cao hon.
Cuối cùng, yêu cầu cần ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền sẽ gây nên một kiểu xung đột khác nữa. Việc nâng lãi suất có thể được sử dụng để bảo vệ đồng tiền quốc gia nhưng điều đó lại có thể gây tác động tiêu cực - bóp nghẹt hệ thống Ngân hàng. * Mô hình NHTW thực hiện chức năng TTGSNH NHTW suy cho cùng vẫn phải chịu trách nhiệm về sự vận hành trôi chảy của hệ thống thanh toán và sự bình ổn của khu vực Ngân hàng và là người cho vay cứu cánh cuối cùng.