Mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo đề án có kết cấu gồm 04 chƣơng đó là: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thƣơng mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chƣơng 3: Giải pháp của đề án quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thƣơng mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chƣơng 4: Tổ chức thực hiện. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Huy động vốn và các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại a. Khái niệm Huy động vốn là việc các NHTM động viên các nguồn vốn trong xã hội để “ phục vụ cho mục đích inh doanh của mình [4].
Hoạt động này đóng vai trò rất quan trọng đối với tất cả các l nh vực trong nền kinh tế thông qua việc cung cấp các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền mặt nhàn rỗi của dân cƣ và các tổ chức kinh tế. Ngân hàng thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại dƣới hình thức tiền tệ làm tăng quá trình luân chuyển vốn kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các hình thức huy động vốn * Phân loại huy động vốn căn cứ theo thời gian: Phân loại theo thời gian có ý ngh a quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng nhƣ thời gian phải hoàn trả khách hàng.
Theo thời gian hình thức huy động đƣợc chia thành. - Huy động vốn ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các NHTM thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trƣờng tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán.Phần lớn số này đƣợc dùng để cho vay ngắn hạn dƣới 1 năm hoặc đƣợc chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thƣờng thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém. - Huy động vốn trung hạn: Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trƣờng vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm.
Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tƣơng đối dài và thuận tiện. Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thƣờng cao hơn nguồn ngắn hạn. 6 Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tƣ thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao. ” - Huy động vốn dài hạn: Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân “ hàng trên thị trƣờng vốn với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên).
Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao. Tiêu chí phân loại theo thời gian thƣờng chỉ đƣợc các NHTM sử dụng để đánh giá hoạt động huy động vốn của chính ngân hàng đó. Vì chỉ tiêu này mang tính khái quát cao nên NHNN không phân loại theo tiêu chí này trong công tác quản lý hoạt động huy động vốn của các NHTM. * Phân loại theo đối tƣợng huy động: Hình thức phân loại này thƣờng đƣợc các NHTM sử dụng để theo dõi hoạt động huy động vốn trên bảng cân đối.
Tiêu chí này giúp các NHTM quản lý hiệu quả hoạt động huy động vốn của bản thân ngân hàng. Hiện nay tại các NHTM, bộ phận huy động vốn từ dân cƣ và doanh nghiệp, đặc biệt là huy động vốn từ dân cƣ ngày càng tăng về số lƣợng, tỷ trọng và đóng vai trò quan trọng với hoạt động ngân hàng [12]. Vốn huy động từ doanh nghiệp chủ yếu dƣới dạng tiền gửi thanh toán. Đối với huy động vốn từ dân cƣ các hình thức huy động vốn ngày càng phong phú nhằm khai thác triệt để nguồn vốn trong dân.
- Huy động từ dân cƣ: Trên cơ cở hoạt động của mình NHTM hành huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cƣ thông qua các hình thức tiết kiệm, gửi thanh toán, ủy thác cho ngân hàng đầu tƣ. Tuy nhiên thì nguồn tiền gửi trong dân cƣ bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ đáng ể (nếu không nói là chủ yếu) của NHTM. Nguồn này vừa có tính ổn định cao, thời hạn chủ yếu là trung và dài hạn, các khoản chi phí cho giao dịch đối với nguồn này thƣờng thấp về số tƣơng đối hách hàng mang tính ổn định cao, ít biến động, rất thuận lợi cho việc hoạch định chính sách hoạt động của ngân hàng nói chung và chính sách huy động vốn nói riêng [13]. - Huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức xã hội: Các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thông thƣờng thì các tổ chức này hông thƣờng xuyên gửi tiền và ngân hàng với mục đích tiết kiệm mà chủ yếu là dùng vào việc thanh toán.
Trên 7 cơ sở nắm bắt đƣợc chu ì sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chu ì hoạt động của các tổ chức mà ngân hàng đề nghị, hoặc khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức gửi tiết kiệm theo một số quy định cụ thể mà hai bên thoả thuận cũng nhƣ quy định hiện hành của pháp luật. Một số doanh nghiệp Nhà Nƣớc (doanh nghiệp quốc doanh hông đƣợc phép gửi tiết kiệm thì họ lại gửi dƣới hình thức biến tƣớng của tiền gửi tiết kiệm là uỷ thác đầu tƣ. ” - Huy động từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác: Các tổ chức tín dụng “ khác trong khi tham gia hệ thống thanh toán có thể mở tài khoản tại NHTM. Qua tài khoản này, NHTM có thể huy động vốn giống nhƣ đối với các tổ chức kinh tế bình thƣờng.
Ngoài các tổ chức tín dụng NHNN cũng có thể là nơi cung cấp vốn cho NHTM dƣới hình thức cho vay nhƣng chỉ áp trong trƣờng hợp NHTM tạm thời thiếu hụt trong thanh toán cho khách hàng, hoặc trong trƣờng hợp ngân hàng thiếu hụt dự trữ theo quy định của NHNN hoặc để đáp ứng những tình huống bất khả kháng [9]. Tỷ trọng của nguồn này thƣờng thấp, tính ổn định không cao và không thƣờng xuyên. Các NHTM rất hạn chế sử dụng tới nguồn này. * Phân loại theo bản chất nghiệp vụ huy động vốn: Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu đƣợc các NHTM sử dụng hiện nay.
Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn r ràng tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các chế độ báo cáo định kỳ NHNN áp dụng với các NHTM trong hoạt động huy động vốn ngày càng tiến gần với cách phân loại hình thức huy động vốn của các NHTM để các số liệu báo cáo đảm bảo độ chính ác cao hơn phản ánh đúng tình hình huy động vốn tại các NHTM ở cấp độ Chi nhánh. Các hình thức huy động bao gồm: - Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi: + Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán : Phƣơng thức huy động này thƣờng thông qua việc mở tài khoản cá nhân, dịch vụ thanh toán, sử dụng thẻ ngân hàng. Nguồn tiền này chủ yếu phục vụ nhu cầu thanh toán thƣờng xuyên hay tiêu dùng hàng ngày của khách hàng của ngân hàng, nó có tính ổn định không cao, tuy nhiên các NHTM có thể dùng một phần của nguồn nay để tiến hành sử dụng theo mục đích của mình trên cơ sở tính toán hợp lý quy luật biến động của loại tiền gửi 8 này.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho ngƣời gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi. Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lƣợng cao, hệ thống mạng lƣới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của ngƣời gửi tiền. + Tiền gửi có kỳ hạn: Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời hạn nhất định theo thoả thuận. Nguồn tiền gửi này thƣờng gắn với các tổ chức kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần nhƣ ác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động.
Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn. Ngƣời gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích iếm lời. Do đó sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và r nét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng. + Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động đơn giản nhất của các NHTM.
Các NHTM có thể huy động tiền tiết kiệm của dân chúng dƣới các hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn với các mức lãi suất cố định hoặc thay đổi theo từng thời kỳ, lãi suất bậc thang… Hoạt động này đem lại cho ngân hàng nguồn vốn chủ yếu trong tổng nguồn vốn hoạt động. Thông qua tình hình thực tế của ngân hàng, các chỉ số phát triển của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng vốn hiện tại và dự báo trong tƣơng lai mà các NHTM có chính sách huy động vốn hợp lí, thƣờng là công cụ lãi suất nhằm gây sự quan tâm của khách hàng, từ đó thu hút khách hàng tới gửi tiền vào ngân hàng với những mục tiêu khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách gửi tiền và danh mục mà ngân hàng cung cấp. ” - Huy động qua nghiệp vụ đi vay: Hình thức này ngày càng chiếm vai trò “ quan trọng trong môi trƣờng inh doanh đầy biến động nhƣ hiện nay. Các NHTM có thể vay từ nhiều nguồn nhƣ: + Vay từ các NHTM hác: Đó là các hoản vay thông thƣờng mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trƣờng liên ngân hàng hay thị trƣờng tiền tệ.
Các ngân 9 hàng thƣờng xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ hông vay ngân hàng trung ƣơng.