phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề án được kết cấu thành 3 phần, gồm có: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại Phần 2: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Tây Hồ Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị đối với huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Tây Hồ 7 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về Ngân hàng Thương mại 1.1 Khái niệm về Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, hệ thống NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện, phát triển và trở thành những định chế tài chín không thể thiếu trong nền kinh tế bởi vai trò quan trọng của nó đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng, từng địa phương nói riêng. NHTM là một loại hình doanh nghiệp/ định chế tài chính đã có quá trình phát triển lâu dài nhưng đến nay vẫn không có một khái niệm thống nhất về ngân hàng. Thông thường, khi đưa ra khái niệm về một tổ chức người ta thường chưn cứ vào các chức năng ( hay các hoạt động) mà tổ chức đó thực hiện trong nền kinh tế.
Đối với NHTM, việc đưa ra khái niệm về nó trong bối cảnh kinh tế hiện nay không phải dễ dàng và luôn chính xác. Bởi vì, không chỉ chức năng của các NHTM cũng đang thay đổi mà chức năng của đối thủ cạnh tranh chính của ngân hàng cũng thay đổi không ngừng. Thực trế cho thấy, nhiều tổ chức tài chính như công ty công nghệ tài chính (Fintech)… đều đang cố gắng tham gia cung cấp dịch vụ ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về các hoạt động ngân hàng đầu tư, lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017: “ NHTM là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng việc kinh doanh, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo tiếp cận đề án này, NHTM được hiểu là : “ Một tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để 8 cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Vai trò của Ngân hàng Thương mại đối với nền kinh tế Thứ nhất, NHTM là trung gian tài chính, thực hiện vai trò điều chuyển các khoản tiền nhàn rỗi, tiền tiết kiệm ( chủ yếu từ cá nhân, hộ gia đình) thành vốn tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân, thành phần kinh tế… đầu tư vào kinh doanh, nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác. Thứ hai, NHTM giữ vai trò là trung gian thanh toán, thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ của họ.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngoài NHTM, hiện nay còn có một số tổ chức khác ( tùy theo luật pháp của mỗi quốc gia) cũng được cấp phép cung cấp dịch vụ thanh toán. Tuy nhiên, NHTM vẫn là chủ thể chủ yếu nhất thực hiện chức năng mở tài khoản và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Thứ ba, NHTM giữ vai trò là người bảo lãnh, cam kết trả nợ cho khách hàng nếu khách hàng thiếu hoặc mất khả năng thanh toán. Trong một số giao dịch kinh tế, khi mà các bên liên quan thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, ngân hàng thường được lựa chọn làm chủ thể đảm bảo thực hiện các giao dịch thông qua hoạt động bảo lãnh.
Khi bên được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, ngân hàng có trách nhiệm thanh toán cho bên thụ hưởng. Thứ tư, NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia. Với xu hướng hội nhập quốc tế, việc mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế giữa các chủ thể của một quốc gia với thế giới bên ngoài sẽ giúp các quốc gia phát huy được lợi thế của mình. Thông qua các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, quan hệ thanh toán với các tổ chức tài chính, ngân hàng và doanh nghiệp quốc tế,.
NHTM giúp việc thanh toán, trao đổi mua bán được diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động kinh tế đạt được hiệu quả cao, đồng thời góp phần khẳng định vị thế và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, của NHTM trên trường quốc tế. Thứ năm, hoạt động kinh doanh của ngân hàng góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội. Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về NHTW/NHNN. Để thực thi chính sách tiền tệ, NHTW/NHNN phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở,… NHTM là chủ thể 9 chịu sự tác động trực tiếp của các công cụ này, đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
Hoạt động kinh doanh của NHTM gắn liền với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Mặt khác, thông qua hoạt động của NHTM và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỉ giá,… của nền kinh tế được phản hồi về cho NHTW/NHNN để Chính phủ và NHTW/NHNN có những chính sách điều tiết thích hợp với tình hình cụ thể 1. Các hình thức huy động vốn tiền gửi 1. Khái niệm về huy động vốn tiền gửi Theo Luật Tổ chức Tín dụng 2010 “ Huy động vốn tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.Rose, huy động vốn tiền gửi là hoạt động ngân hàng nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân thông qua hình thức nhận tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch để đáp ứng nhu cầu về vốn.
Theo Giáo trình Quản trị Ngân hàng Thương mại : “ Huy động vốn tiền gửi là cách NHTM mua lại quyền sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời của khách hàng trong thời gian xác định với nghĩa vụ hoàn trả lợi ích và chi phí cần thanh toán cho khách hàng dưới dạng lãi suất tiền gửi.” Như vậy, theo hướng tiếp cận của đề án này, huy động vốn tiền gửi được hiểu là việc NHTM nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Hình thức huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại a. Căn cứ theo thời hạn huy động vốn tiền gửi Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH): là khoản tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và tổ chức tín dụng, với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho khách hàng. Cá nhân khi 10 gửi tiết kiệm có thể gửi bằng tiền Việt Nam đồng (VND), Đô la mỹ (USD) hay đồng Euro (EUR).
Tiền gửi có kỳ hạn là một công cụ đầu tư an toàn và ổn định, phổ biến trong ngành ngân hàng. Nó mang lại lợi ích đảm bảo vốn, lãi suất cố định và tính linh hoạt trong việc quyết định về tiếp tục đầu tư hay rút vốn. Tiền gửi có kỳ hạn là hình thức đầu tư an toàn và ổn định trong lĩnh vực ngân hàng. Đặc điểm chính của tiền gửi có kỳ hạn bao gồm thời gian kỳ hạn xác định, lãi suất cố định, bảo đảm vốn và ràng buộc về rút tiền trước hạn.
Người gửi tiền có thể yên tâm về việc vốn và lợi suất được đảm bảo và có tùy chọn gia hạn sau khi đáo hạn. Tuy nhiên, về nguyên tắc TGCKH không rút trước hạn nếu rút trước hạn thì khách hàng sẽ bị hưởng lãi suất không kỳ hạn thậm chí không trả lãi. Nhờ tính ổn định và tiện lợi, tiền gửi có kỳ hạn là một lựa chọn hấp dẫn cho những người muốn đầu tư một cách an toàn và có lợi suất đáng tin cậy Tiền gửi không kỳ hạn (TGKKH): là loại hình tiết kiệm không ấn định kỳ hạn gửi và số tiền gửi, với lãi suất giữ ở một mức cố định. Chủ tài khoản có thể rút một phần số tiền gửi hoặc tất toán tài khoản bất cứ lúc nào với mức lãi suất như ban đầu mà không cần chờ tới cuối kỳ.
TGKKH có một số ưu điểm như sau: ⮚ Có thể rút ra linh hoạt: Khoản tiền gửi không kỳ hạn không bắt buộc khách hàng phải chờ đúng ngày đáo hạn mới được rút (hoặc nếu rút trước ngày đáo hạn sẽ phải nhận lãi suất thấp). Khách hàng có thể tự do rút tiền để thực hiện các giao dịch, thanh toán tiền nước,. ⮚ Số tiền gửi tối thiểu thấp: Chỉ từ 100,000 VNĐ, khách hàng đã có thể mở tài khoản gửi tiết kiệm không kỳ hạn, hàng tháng khách hàng có thể gửi thêm tiền hoặc rút ra.