phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được thể hiện trong ba chương: Chƣơng 1.Nội dung cơ bản về hoạt động huy động vốn và mở rộng huy động vốn của Ngân hàng thương mại Chƣơng 2.Thực trạng mở rộng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh- Chi nhánh Ba Đình.Hoàn thiện giải phápmở rộng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh- Chi nhánh Ba Đình 10 CHƢƠNG 1.NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNGHUY ĐỘNG VỐN VÀ MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐNCỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CƠ CẤU VÀ ĐẶC ĐIỂM NGUỒN VỐN NGÂN HÀNG 1. Nguồn vốn hủ sở hữu Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có của NHTM bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của NHTM theo quy định của ngân hàng Trung ương.
Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong kết cấu tổng nguồn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Đây là nguồn vốn quan trọng vì nó là cơ sở để mở rộng quy mô hoạt động quyết định đến năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTM, là tài sản đảm bảo tạo uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, theo đà phát triển của ngân hàng vốn này sẽ tăng dần về số tuyệt đối. Vốn chủ sở hữu tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM nhưng đóng vai trò rất quan trọng vì đây là căn cứ để mỗi NHTM xác định chỉ số huy động vốn mục tiêu, việc NHTM vay vốn từ các TCTD khác chỉ là vì thời, đặc biệt đối với các CN của NHTM là đơn vị không thể trực tiếp thực hiện vay vốn từ NHNN, hay các NHTM khác trên thị trường liên ngân hàng mà chỉ có thể gia tăng nguồn vốn bằng cách huy động từ dân cư, tổ chức kinh tế,. Chính vì vậy mỗi CN của NHTM đóng vai trò như đại lý bán hàng các SPDV HĐV của mỗi NHTM Quy mô vốn tự có là một trong những căn cứ quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của ngân hàng, đồng thời với chức năng bảo vệ, vốn tự có tham gia duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ.
Nếu xem xét vốn theo cách nhìn tĩnh tại, số dư vốn tự có được sử dụng để bù đắp rủi ro trong cho vay và đầu tư của ngân hàng. Theo kinh nghiệm nếu tỷ lệ vốn tự có so với tài sản có bằng 5%, thì tài sản có không 11 được phép sụt giảm trên 5% về mặt giá trị trước khi ngân hàng này chính thức mất khả năng thanh toán. Vốn tự có cung cấp sự đảm bảo đối với khách hàng gửi tiền và những chủ nợ khác về khả năng tiếp tục tồn tại và phát triển của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt. Đồng thời, vốn tự có sẽ bù đắp các khoản lỗ cho đến khi thu nhập phát sinh và được giữ lại để tạo thành vốn bổ sung.
Vốn tự có còn có vai trò quyết định mức cho vay tối đa với một khách hàng và mức cho vay tối đa với một nhóm khách hàng liên quan theo quy định của ngân hàng Trung ương. Căn cứ vào hệ số vốn tự có so với tài sản có rủi ro chuyển đổi, có thể đánh giá và giám sát khả năng chi trả của ngân hàng (hệ số Cooke), theo thông lệ quốc tế hệ số Cooke phải đạt tối thiểu là 8%. Tuy nhiên, nếu các NHTM có cùng hệ số Cooke chưa hẳn là khả năng chi trả như nhau, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là kết cấu các loại tài sản có, nếu tập trung nhiều vào tài sản có mức độ rủi ro cao thì khả năng chi trả thấp và ngược lại. Vốn tự có bao gồm: Vốn cấp 1 bao gồm: Vốn điều lệ (vốn đã được cấp,vốngóp), quỹ dựtrữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia.
Vốn này tối thiểu phải bằng vốn pháp định theo quy định của pháp luật khi thành lập ngân hàng. Tuỳ theo từng lọai hình ngân hàng vốn điều lệ được hình thành từ các nguồn khác nhau. NHTM Nhà nước vốn tự có do ngân sách nhà nước cấp, NHTM cổ phần vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp, ngân hàng liên doanh vốn điều lệ do các bên đóng góp. Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, ngân hàng có thể chủ động sử dụng chúng vào các mục đích như: Trang bị cơ sở vật chất, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, sử dụng để cho vay, và đặc biệt là tham gia đầu tư, góp vốn liên doanh.
Vốn cấp 2: Vốn cấp 2 của NHTM không ngừng được tăng lên theo thờigian từ các nguồn sau: Một phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định 12 được định giá lại theo quy định của pháp luật, một phần giá trị tăng của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại theo quy định của pháp luật, các loại trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu do tổ chức tín dụng phát hành thoả mãn một số điều kiện nhất định, các công cụ nợ khác thoả mãn một số điều kiện nhất định, dự phòng chung theo một tỷ lệ tối đa so với tổng tài sản có rủi ro. Các tỷ lệ, điều kiện và các giới hạn khi xác định vốn cấp 1, vốn cấp 2 do ngân hàng Trung ương quy định trong từng thời kỳ 1. Nguồn vốn hu ng Vốn huy động của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của mình. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu và ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn.
Nền tảng hoạt động kinh doanh của NHTM là nguồn vốn từ huy động. Vốn huy động thường xuyên biến động nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, nó thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Vốn huy động bao gồm: - Vốn tiền gửi: Đây là nguồn vốn cơ bản, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM.
Vốn tiền gửi dùng để tài trợ cho các khoản cho vay, đầu tư tạo lợi nhuận để đảm bảo sự phát triển vững mạnh của ngân hàng. Vốn tiền gửi bao gồm: + Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Tiền gửi thanh toán có lãi suất thấp, khoản tiền gửi này được sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các 13 hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên. + Tiền gửi có kỳ hạn: Để đáp ứng nhu cầu tăng thu nhập của khách hàng gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi tiền không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này.
Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn. + Tiền gửi tiết kiệm: Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của khách hàng chưa sử dụng cho tiêu dùng. Họ gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng lãi từ số tiền đó. Tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai loại hình tiết kiệm sau: * Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác.
* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời hạn gửi và rút tiền, có lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. - Phát hành giấy tờ có giá: Thực chất các nghiệp vụ này là ngân hàng huy động vốn tiền tệ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước bằng việc phát hành kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi. Nguồn vốn vay Là giá trị tiền tệ mà NHTM tạo lập được thông qua mối quan hệ giữa NHTM với tổ chức tín dụng khác hoặc với ngân hàng Trung ương nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn. Nguồn vốn đi vay thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng nó là nguồn vốn cần thiết đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách bình thường.
Thông thường, các NHTM sẽ đi vay dài hạn để bổ sung vốn để cho vay hoặc 14 đầu tư, vay ngắn hạn để đảm bảo khả năng thanh toán hoặc bù đắp thiếu hụt dự trữ. Vốn đi vay bao gồm: - Vay ngân hàng Trung ương: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM, ngân hàng Trung ương là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, việc ngân hàng Trung ương cho các NHTM vay vốn thực chất là tiếp vốn đưa vào lưu thông. Trong trường hợp thiếu vốn khả dụng để đáp ứng nhu cầu thanh toán và các nhu cầu khác. NHTM vay ngân hàng Trung ương dưới hình thức chủ yếu là tái cấp vốn.
Thông thường ngân hàng Trung ương chỉ tái chiết khấu cho những giấy tờ có giá do Chính phủ hoặc chính do ngân hàng Trung ương phát hành. Trong những trường hợp cần thiết, ngân hàng Trung ương cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định. Ở Việt Nam,ngân hàng Nhà nước thực hiện việc tái cấp vốn cho các ngân hàng theo các hình thức sau: * Cho vay theo hồ sơ tín dụng * Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác * Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. - Vay các tổ chức tín dụng khác: Là quá trình điều hoà nhu cầu vốn khả dụng giữa NHTM thừa dự trữ cho NHTM thiếu hụt dự trữ tại ngân hàng nhà nước (NHNN) nhằm đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng.