MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nƣớc. Ngân sách nhà nƣớc (NSNN) đƣợc xem là khâu chủ đạo của hệ thống tài chính, thể hiện quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc với các chủ thể trong xã hội và gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc nhƣ điều tiết kinh tế vĩ mô, ổn định trật tự và an sinh xã hội. Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nƣớc, đƣợc nhà nƣớc tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có vị trí địa lý nằm liền kề hai Thành phố lớn đó là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ, với hệ thống giao thông thủy bộ nối liền các tỉnh duyên hải ĐBSCL với Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ, tạo cho vùng có nhiều lợi thế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm.
Theo Tổng cục Thống kê (2005-2014), tốc độ tăng trƣởng GDP (theo giá 1994) trung bình toàn vùng đạt 6,7%/năm. Đây chính là tiềm năng và điều kiện thuận lợi để các tỉnh ven biển ĐBSCL nâng cao năng lực sản xuất, đầu tƣ đổi mới khoa học công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trƣờng, tạo lợi thế trong thu hút đầu tƣ, góp phần làm tăng nguồn thu NSNN cho khu vực. Thu NSNN các tỉnh ven biển ĐBSCL có chiều hƣớng tăng qua các năm. Cụ thể, từ mức 1657,13 tỷ đồng năm 2005, đến mức 6800,58 tỷ đồng vào năm 2014, tốc độ tăng trƣởng trung bình 17,58%/năm.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trƣởng và nguồn thu NSNN chƣa ổn định, chƣa đảm bảo đƣợc nhiệm vụ chi, còn phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ từ ngân sách Trung ƣơng, Trung ƣơng phải bù các khoản hụt chi, trung bình khoảng 22,97%/năm, từ đó làm ảnh hƣởng đến chính sách phát triển của các tỉnh khu vực này. Để góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, điều cần thiết phải nhận biết các yếu tố ảnh hƣởng đến thu NSNN các tỉnh ven biển ĐBSCL trong giai đoạn hiện nay. Đó chính là lý do tôi chọn và thực hiện đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu 2 ngân sách nhà nước - nghiên cứu trường hợp các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long”. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn đối với khu vực ven biển ĐBSCL, nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho các cấp lãnh đạo đƣa ra chính sách phù hợp, góp phần khai thác tốt nguồn thu từ kinh tế địa phƣơng và đảm bảo công tác thu NSNN trong thời gian tới.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến thu ngân sách nhà nƣớc các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ đó đƣa ra các chính sách, giải pháp, khuyến nghị, giúp các tỉnh có chính sách cụ thể để thu ngân sách đƣợc ổn định và bềnh vững.3 Câu hỏi nghiên cứu Nguồn thu ngân sách nhà nƣớc của các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long chịu sự ảnh hƣởng bởi các nhân tố nào? Các yếu tố ảnh hƣởng đó có tác động nhƣ thế nào đến nguồn thu ngân sách các tỉnh khu vực này? 1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Vấn đề thu ngân sách nhà nƣớc và các yếu tố ảnh hƣởng đến thu ngân sách nhà nƣớc các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Các biến ảnh hƣởng bao gồm: Biến phụ thuộc: Thu ngân sách nhà nƣớc Các biến độc lập gồm: GDP bình quân đầu ngƣời, mở cửa thƣơng mại, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thâm hụt ngân sách, số lƣợng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có việc làm.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu về thu ngân sách nhà nƣớc của 07 tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang, giai đoạn 2005-2014.5 Phƣơng pháp nghiên cứu Để xác định các nhân tố trong mô hình đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến thu ngân sách của các tỉnh ĐBSCL, đề tài đƣợc thực hiện nhƣ sau: 3 a. Nghiên cứu định tính: Nhằm xác định các chỉ tiêu đánh giá, thu thập các thông tin cần thiết liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu nhằm phục vụ cho phần nghiên cứu định lƣợng. Số lƣợng mẫu dự kiến là 70 mẫu trong giai đoạn 2005 - 2014 b.
Nghiên cứu định lƣợng: Mẫu đƣợc chọn theo phƣơng pháp lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu thu thập đƣợc sẽ đƣợc xem xét đƣa vào phân tích thống kê. Sau đó dữ liệu sẽ đƣợc xử lý bằng phần mềm Stata 12. Tác giả sử dụng 2 phƣơng pháp chính trong quá trình xử lý dữ liệu thu thập đƣợc: mô hin ̀ h tác đô ̣ng cố đinh ̣ (FEM) và mô hình tác 2 đô ̣ng ngẫu nhiên (REM).
Tƣ̀ đó , dƣ̣a vào các phân tích trên cơ sở của hê ̣ số R , kiể m đinh ̣ Hausman , phân tić h tƣơng quan giƣ̃a thành phầ n sai số chuyên biê ̣t chéo hay c á nhân (ɛi) và các biến hồi quy độc lập để lựa chọn mô hình phù hợp .6 Bố cục luận văn Luận văn bao gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1. Giới thiệu Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3. Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 4.
Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5. Kết luận và hàm ý chính sách 4 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Dựa trên các tiếp cận về mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu đã trình bày ở chƣơng 1, trong chƣơng 2 nêu lên khái quát về các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long và các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó, trong chƣơng này tác giả tổng hợp các nghiên cứu khoa học trƣớc về mối quan hệ giữa các yếu tố đến thu ngân sách dựa trên khung lý thuyết và thực nghiệm đã đƣợc chứng minh có cơ sở khoa học, từ cơ sở đó đƣa ra mô hình nghiên cứu của đề tài. Khái quát về các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long.
Các tỉnh vùng biển và ven biển Đồng bằng sông Cửu Long: bao gồm 29 huyện, thị của 07 tỉnh có biển từ Tiền Giang đến tỉnh Kiên Giang. Diện tích tự nhiên vùng ven biển 12.094 km2, dân số năm 2013 là hơn 3,61 triệu ngƣời. Đang đẩy mạnh đầu tƣ để huyện đảo Phú Quốc thành trung tâm kinh tế lớn của vùng hƣớng mạnh ra biển. Hoàn thành và đi vào khai thác Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc; các khu du lịch sinh thái chất lƣợng cao và hệ thống cảng biển, cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão.
Các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình khá bằng phẳng và nông, nơi sâu nhất khoảng 86m. Hải sản nơi đây có 2.000 loài, trong đó hơn 80 loài có giá trị kinh tế cao; riêng tôm biển có 50 loài, trong đó 15 loài có giá trị kinh tế cao; 40 loài động vật chân đầu, trong đó 10 loài mực có giá trị kinh tế cao. Tổng trữ lƣợng hải sản 577. Các tuyến đƣờng nhánh nối đƣờng trục Bắc-Nam đến đƣờng vòng quanh đảo và kết nối đến các khu du lịch trọng điểm trên đảo đang đƣợc gấp rút hoàn thành; phát triển các tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây và tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Đông gắn với xây dựng khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau.
Đã đƣa đƣợc điện lƣới quốc gia ra đảo và đang nghiên cứu hình thành Đặc khu hành chính- kinh tế Phú Quốc. Phát triển kinh tế vùng ven biển phải được tập trung đầu tư, đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực theo hướng bền vững: Đƣa tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2015 lên 6,7%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 7,3%/năm. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vùng ven biển, trong đó tỷ trọng ngành nông – lâm - 5 ngƣ nghiệp giảm từ 17,8% năm 2010 xuống 15% năm 2015 và tiếp tục giảm xuống còn 12,1% năm 2020; ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 35,6% năm 2010 lên 36% năm 2015 và đạt mức 36,3% năm 2020; ngành dịch vụ tăng từ 46,7% năm 2010 lên 48,9% năm 2015 và 51,7% năm 2020. Đến năm 2020, GDP toàn vùng ven biển đạt 1.296 nghìn tỷ đồng, trong đó ngành nông - lâm – ngƣ nghiệp đạt 156 nghìn tỷ đồng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 470 nghìn tỷ đồng và ngành dịch vụ đạt 670 nghìn tỷ đổng.
Thuận lợi và khó khăn 2. Thuận lợi Khai thác lợi thế của địa hình kinh tế vùng ven biển để tạo sức mạnh tổng hợp cho phát triển kinh tế biển: Sắp xếp, tổ chức lại và kết nối không gian vùng biển và vùng bờ (đất liền) tạo thế vững chắc, liên hoàn sẵn sàng vƣơn khơi, bám biển để phát triển kinh tế biển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thiết lập hệ thống cơ chế, chính sách đủ mạnh trong quản lý, khai thác, sử dụng tiềm lực vùng ven biển một cách bền vững và hiệu quả: - Khu vực Tây Nam bộ: Phát triển toàn diện ngành hải sản, bao gồm cả khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản và hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển, đƣa thủy sản thành ngành kinh tế biển mũi nhọn của tiểu vùng và của cả nƣớc; xây dựng Rạch Giá thành trung tâm nghề cá và dịch vụ lớn của cả nƣớc. Hình thành và phát triển các tuyến hành lang kinh tế ven biển gồm Tuyến kinh tế Cần Thơ-Sóc Trăng (chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến nông, hải sản và công nghiệp nhẹ phục vụ xuất khẩu, phát triển mạnh theo hƣớng sản xuất hàng hoá); Tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây (Rạch Giá - Hà Tiên), chủ yếu tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng tâm khai thác chế biến hải sản, công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch dịch vụ; và Tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Đông (Bạc Liêu-Gành Hào-Cà Mau-Năm Căn), tập trung nguồn nguyên liệu hải sản cho chế biến xuất khẩu lớn nhất cả nƣớc, mà còn là khu vực trọng điểm sản xuất nông nghiệp của tiểu vùng.
Xây dựng Phú Quốc trở thành trung tâm giao thƣơng quốc tế, trung tâm du lịch sinh thái đảo - biển của các nƣớc và khu vực và thiết lập Đặc khu hành chính-kinh tế Phú Quốc.