Chương 1: Cơ sở lý luận về NSNN và cơ sở pháp lý quản lý ngân sách nhà nước cấp quận, huyện Chương 2: Thực trạng công tác quản lý NSNN tại Quận Ngô Quyền Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN Quận Ngô Quyền. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ QUẢN LÝ NSNN CẤP QUẬN, HUYỆN 1. Ngân sách Nhà nước và ngân sách Nhà nước cấp quận (huyện) 1. Tổng quan về ngân sách Nhà nước 1.
Khái niệm ngân sách Nhà nước Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.7] Theo Luật NSNN năm 2015, thì “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [1] Về hình thức biểu hiện bên ngoài, NSNN là một bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền của nhà nước được dự kiến và được phép thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Về cơ cấu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước. Về mặt pháp lý, NSNN phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định. Thẩm quyền quyết định NSNN ở hầu hết các nước là do cơ quan đại diện.
Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định NSNN về tổng mức và cơ cấu phân bổ. Mọi hoạt động thu, chi của NSNN đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nước ban hành. Về thời gian thực hiện, NSNN được thực hiện trong một năm, năm này gọi là năm ngân sách hay năm tài khóa NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước.
NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá 8 trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Thực chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Trong thực tế, hoạt động NSNN là hoạt động thu - chi tài chính của Nhà nước. Hoạt động đó đa dạng, phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội.
Tuy đa dạng, phong phú như vậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung: Các hoạt động thu - chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Đằng sau những hoạt động thu - chi tài chính đó chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích chung bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong thu, chi NSNN. Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi NSNN nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và là quá trình phân phối và phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Như vậy, thu - chi của NSNN hoàn toàn không giống bất kỳ một hình thức thu - chi của một loại quỹ nào. Thu của NSNN phần lớn đều mang tính chất bắt buộc và các khoản chi của NSNN lại không mang tính chất hoàn lại. Đây là đặc trưng nổi bật của NSNN trong bất cứ một Nhà nước nào. Xuất phát từ quyền lực của Nhà nước và các nhu cầu về tài chính để thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội.
Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước đã sử dụng quyền lực thông qua hệ thống pháp luật tài chính buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải đóng góp một phần 9 thu nhập của mình cho NSNN, tức là các chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước. Sự bắt buộc đó là hoàn toàn khách quan, vì lợi ích của toàn xã hội chứ không phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nước. Các đối tượng nộp thuế cũng hoàn toàn ý thức được nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Họ cũng hiểu được vai trò của Nhà nước trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội, do nhân dân giao phó.
Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước chính là yếu tố quyết định tính chất hoạt động của NSNN, nói lên bản chất của NSNN. Đặc điểm của NSNN Các đặc điểm của NSNN: + Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của Nhà nước và thực hiện chức năng của Nhà nước. + Các hoạt động thu, chi của đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định, đó là các luật thuế, chế độ thu, chế độ chi tiêu, định mức chi tiêu do Nhà nước ban hành. + Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến.
+ NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng. + NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của NSNN với các quỹ khác ở chỗ NSNN là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. + Hoạt động thu - chi của NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Chức năng, vai trò của NSNN - Chức năng của NSNN: 10 NSNN đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Vì vậy, NSNN cũng có hai chức năng là phân phối, điều chỉnh và kiểm soát. + Chức năng đầu tiên của NSNN là chức năng phân phối, điều chỉnh. Bất kỳ một Nhà nước nào, muốn tồn tại và duy trì được các chức năng của mình, trước hết phải có nguồn lực tài chính.
Đó là các khoản chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, cho lực lượng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu tư phát triển v. Nhưng muốn tạo lập được NSNN, trước hết phải tập hợp các khoản thu theo luật định, cân đối chi tiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sách hiện hành. Đó chính là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch của Nhà nước, thực hiện việc cân đối thu chi bằng tiền của Nhà nước. + Chức năng thứ hai của NSNN là giám đốc quá trình huy động các khoản thu và thực hiện các khoản chi.
Thông qua chức năng này, NSNN kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thường pháp luật và các chính sách động viên khác. Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việc kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và các chế độ chi quy định. Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu chi NSNN giúp ta giám sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của vốn NSNN, hiệu quả của các chủ trương, chính sách, chế độ do Đảng và Nhà nước đề ra.
Như vậy, hai chức năng phân phối và giám đốc luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, có vị trí và tầm quan trọng như nhau, không thể coi chức năng này quan trọng hơn chức năng kia, mà phải coi trọng cả hai chức năng ở mọi lúc, mọi nơi trong tạo lập và sử dụng vốn NSNN. - Vai trò của NSNN: 11 NSNN có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Vai trò của NSNN luôn gắn liền với vai trò của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định như khai thác, huy động các nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu thu - chi của Nhà nước theo mục tiêu, quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, bù đắp cho những khiếm khuyết của thị trường, kích thích tăng trưởng kinh tế và chống lạm phát. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN 1.
Hệ thống NSNN ở Việt Nam Theo Luật NSNN năm 2015, hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức theo sơ đồ sau đây: NSNN Ngân sách Trung Ương Ngân sách Địa phương Ngân sách tỉnh, Ngân sách huyện, Ngân sách thành phố trực quận, thị xã, thành xã, phường, thuộc Trung Ương phố thuộc tỉnh thị trấn Hình 1. Sơ đồ tổ chức hệ thống NSNN Việt Nam 1. Phân cấp quản lý NSNN Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi, quyền hạn, của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu chi của ngân sách. Phân cấp quản lý ngân sách thường trùng hợp với phân cấp quản lý hành chính nhằm tạo điều kiện tài chính cho hoạt động của các cấp 12 chính quyền trong bộ máy hành chính.
Do vậy, phân cấp quản lý NSNN luôn gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền. Phân cấp quản lý NSNN thể hiện chính quyền địa phương được giao những nhiệm vụ chi cụ thể, có quyền tự chủ về ngân sách và quyền thực thi các chức năng hành chính trong phạm vi địa phương mình. NSNN được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương là tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống NSNN gồm nhiều cấp. Điều đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính.