Đề án thạc sĩ quản lý nhà nước về trang trại thuỷ sản tại thành phố Thuỷ Nguyên, Hải Phòng

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản tại thành phố Thuỷ Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng.

Chuyên ngành

Khoa học quản lý

Tác giả

Vũ Đình Mạnh

Thể loại

Đề án thạc sĩ

2025

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý trang trại thuỷ sản tại TP Thủy Nguyên

Mô hình kinh tế trang trại thủy sản đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp tại thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Địa bàn có hệ thống sông ngòi dày đặc cùng diện tích mặt nước phong phú. Điều kiện tự nhiên tạo nền tảng thuận lợi cho các hộ sản xuất phát triển vùng nuôi trồng quy mô lớn. Quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này là sự tác động có tổ chức của bộ máy chính quyền địa phương. Cơ quan quản lý vận dụng luật pháp, cơ chế tài chính và công cụ hành chính để định hình không gian sản xuất. Mục tiêu chính là thiết lập trật tự khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, công tác quản lý còn thúc đẩy các mô hình kinh tế nông nghiệp gia tăng giá trị kinh tế. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm phân cấp nhiệm vụ cho các phòng ban chuyên môn và Ủy ban nhân dân cấp xã. Các quy định pháp lý hướng dẫn người dân đầu tư công nghệ, cải tạo ao đầm và lựa chọn giống nuôi đạt chuẩn. Việc điều hành kịp thời giúp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và ô nhiễm nguồn nước mặt. Đây là nền tảng cốt lõi nhằm phát triển kinh tế thủy sản ổn định và bền vững.

1.1. Khái niệm và vai trò quản lý trang trại thủy sản

Kinh tế trang trại thủy sản là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa có quy mô vượt trội kinh tế hộ gia đình. Mô hình này tập trung tích tụ tư liệu sản xuất và áp dụng kỹ thuật tiên tiến. Quản lý nhà nước cấp địa phương xác lập khung pháp lý để các chủ trang trại an tâm mở rộng đầu tư. Chính quyền địa phương định hướng cơ cấu con nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng từng xã. Sự điều hành thống nhất giúp bảo tồn tài nguyên sinh vật bản địa. Đồng thời, công tác này kết nối nông dân với thị trường tiêu thụ hiện đại. Hoạt động quản lý giữ vai trò then chốt trong việc tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động địa phương.

1.2. Thẩm quyền và phương pháp quản lý tại địa phương

Ủy ban nhân dân cấp huyện giữ vai trò chủ đạo trong việc ban hành quyết định hành chính địa phương. Cơ quan chức năng sử dụng kết hợp phương pháp hành chính, kinh tế và phương pháp đồng quản lý. Phương pháp hành chính duy trì kỷ cương pháp luật trong việc cấp giấy phép nuôi trồng và thanh tra an toàn vệ sinh. Phương pháp kinh tế tạo động lực phát triển thông qua các gói vay ưu đãi và trợ giá cơ sở vật chất. Phương pháp đồng quản lý khuyến khích người dân cùng tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản chung. Sự phối hợp linh hoạt giữa các phương pháp giúp bộ máy quản trị vận hành trơn tru và gắn liền thực tiễn sản xuất.

II. Thực trạng quản lý trang trại thuỷ sản tại TP Thủy Nguyên

Công tác quản lý nhà nước đối với trang trại thủy sản tại thành phố Thủy Nguyên đã đạt nhiều thành tựu rõ rệt. Chính quyền địa phương tích cực triển khai các văn bản hướng dẫn của trung ương và thành phố Hải Phòng. Quy hoạch vùng nuôi thủy sản thâm canh từng bước được xác lập cụ thể. Nhiều chủ trang trại tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để xây dựng hệ thống ao lót bạt và máy tạo oxy. Năng suất thu hoạch tôm nước lợ, cá nước ngọt tăng trưởng ổn định qua từng năm. Tuy nhiên, thực tế quản lý vẫn tồn tại nhiều khó khăn và thách thức cần tháo gỡ. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng gây áp lực lớn lên quỹ đất nông nghiệp. Tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất mặt nước chưa đồng bộ. Hệ thống kênh cấp thoát nước tại một số xã còn dùng chung với sản xuất lúa, dẫn đến rủi ro lây lan dịch bệnh. Việc giám sát chất lượng con giống và dư lượng hóa chất trong thức ăn còn thiếu thiết bị đo đạc chuyên sâu. Đội ngũ cán bộ phụ trách thủy sản cấp cơ sở còn mỏng so với quy mô phát triển nhanh của các trang trại.

2.1. Vấn đề quy hoạch và hạ tầng vùng nuôi trồng

Quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản tại Thủy Nguyên chưa thực sự bền vững trước làn sóng đô thị hóa. Một số khu vực nuôi cá truyền thống bị thu hẹp diện tích do các dự án hạ tầng giao thông và khu công nghiệp. Hạ tầng thủy lợi nội đồng phục vụ nuôi thủy sản chưa được đầu tư đồng bộ. Nhiều trang trại vẫn phải chia sẻ kênh tưới tiêu với đất canh tác lúa. Việc dùng chung kênh dẫn nước làm tăng nguy cơ xâm nhập hóa chất bảo vệ thực vật vào hồ nuôi cá tôm. Chất lượng nguồn nước ven sông thường biến động lớn theo mùa và triều cường. Điều này gây khó khăn trực tiếp cho công tác kiểm soát môi trường sinh thái của cơ quan chức năng.

2.2. Khó khăn trong quản lý vật tư và chuỗi giá trị

Công tác quản lý thị trường con giống và thức ăn thủy sản gặp nhiều trở ngại do cơ chế phân tán. Nhiều hộ nuôi mua con giống trôi nổi không qua kiểm định chất lượng thú y. Việc sử dụng thuốc phòng trị bệnh chưa theo quy trình chuẩn còn diễn ra phổ biến. Mối liên kết sản xuất giữa chủ trang trại và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu còn lỏng lẻo. Phần lớn sản phẩm thu hoạch chủ yếu tiêu thụ qua thương lái nhỏ lẻ tại các chợ truyền thống. Do thiếu chuỗi liên kết bao tiêu ổn định, giá bán thủy sản thường xuyên bấp bênh. Tình trạng này khiến các hộ nuôi trồng dễ rơi vào cảnh thua lỗ khi thị trường biến động tiêu cực.

III. Giải pháp quản lý trang trại thuỷ sản tại TP Thủy Nguyên

Để nâng cao hiệu quả quản lý trang trại thủy sản tại thành phố Thủy Nguyên, chính quyền cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chiến lược. Trước hết, địa phương cần rà soát và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất mặt nước phù hợp với định hướng không gian đô thị mới. Việc tích hợp quy hoạch nuôi trồng vào quy hoạch tổng thể thành phố giúp giữ vững diện tích mặt nước an toàn. Chính quyền cần tăng cường bố trí ngân sách để xây dựng hệ thống kênh cấp nước và thoát nước thải độc lập tại các vùng nuôi tập trung. Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn phải đẩy mạnh kiểm tra chất lượng nguồn giống nhập vào địa bàn. Các cơ sở kinh doanh thức ăn và thuốc thú y thủy sản cần phải chịu sự thanh tra nghiêm ngặt định kỳ. Địa phương cần thực hiện hiệu quả chính sách khuyến nông theo Nghị quyết số 15 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng. Chính sách này tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí làm ao bạt công nghệ cao và hệ thống quan trắc nước tự động cho các chủ trang trại.

3.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn và công nghệ

Chính quyền địa phương cần mở rộng các gói tín dụng ưu đãi phục vụ phát triển thủy sản quy mô trang trại. Ngân hàng chính sách xã hội và các ngân hàng thương mại cần đơn giản hóa thủ tục thế chấp bằng tài sản trên đất ao nuôi. Hỗ trợ tài chính tập trung vào việc áp dụng công nghệ nuôi khép kín tuần hoàn. Công nghệ lọc nước vi sinh và nuôi thâm canh trong nhà màng giúp giảm thiểu tối đa dịch bệnh. Thành phố cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao công nghệ mới cho nông dân định kỳ. Việc cập nhật kiến thức liên tục giúp chủ trang trại làm chủ kỹ thuật nuôi trồng hiện đại và giảm thiểu rủi ro môi trường.

3.2. Thiết lập mô hình chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm

Cơ quan quản lý cần đóng vai trò cầu nối gắn kết chặt chẽ ba bên: nhà nước, trang trại và doanh nghiệp. Việc thành lập các hợp tác xã thủy sản kiểu mới giúp tập hợp những người nuôi nhỏ lẻ thành khối kinh tế thống nhất. Các hợp tác xã này đại diện cho nông dân ký kết hợp đồng cung cấp thủy sản trực tiếp cho chuỗi siêu thị và nhà máy chế biến. Phương thức hợp đồng tiêu thụ bảo đảm đầu ra ổn định và giữ giá mua ở mức có lãi. Đồng thời, chính quyền cần cấp mã số vùng nuôi và chứng nhận thực hành nông nghiệp tốt VietGAP cho các trang trại. Giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ rõ ràng giúp nâng cao uy tín sản phẩm thủy sản Thủy Nguyên trên thị trường nội địa.

IV. Định hướng phát triển trang trại thuỷ sản tại TP Thủy Nguyên

Quản lý nhà nước đối với trang trại thủy sản tại thành phố Thủy Nguyên giữ vị trí quyết định trong chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp. Khi Thủy Nguyên chuyển dịch thành trung tâm đô thị mới của thành phố Hải Phòng, ngành nuôi trồng thủy sản phải định hình lại theo hướng sinh thái và công nghệ cao. Sự can thiệp nhất quán của chính quyền cấp cơ sở giúp ngăn chặn tình trạng khai thác quá đà và làm suy kiệt nguồn tài nguyên nước. Các chính sách quản lý đất đai và môi trường nghiêm ngặt tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài. Việc ứng dụng công nghệ số vào giám sát hành chính giúp tiết kiệm nguồn lực công và nâng cao tính minh bạch. Bộ máy lãnh đạo địa phương cần tiếp tục đổi mới tư duy điều hành, chuyển từ mệnh lệnh thuần túy sang hỗ trợ và kiến tạo môi trường sản xuất. Những cải cách này không chỉ thúc đẩy kinh tế trang trại bứt phá mà còn góp phần bảo tồn cảnh quan sinh thái đặc trưng của vùng đồng bằng duyên hải.

4.1. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý trang trại

Chuyển đổi số là giải pháp đột phá nâng cao năng lực quản lý nhà nước tại cơ sở. Chính quyền thành phố Thủy Nguyên đang từng bước xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về đất đai và mặt nước nuôi thủy sản. Thông tin về diện tích, chủng loại con nuôi và sản lượng thu hoạch được cập nhật thường xuyên trên nền tảng điện tử. Các trạm quan trắc tự động đo lường độ mặn, độ pH và oxy hòa tan liên tục truyền số liệu về trung tâm điều hành. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường, hệ thống cảnh báo sớm gửi thông báo tự động tới điện thoại của chủ trang trại. Ứng dụng này giúp các bên chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai và dịch bệnh kịp thời.

4.2. Phát triển kinh tế thủy sản sinh thái bền vững

Định hướng phát triển tương lai của Thủy Nguyên là kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp thâm canh và bảo tồn cảnh quan. Các trang trại thủy sản sinh thái gắn liền với dịch vụ trải nghiệm du lịch nông thôn mang lại nguồn lợi kinh tế kép. Cơ quan chức năng khuyến khích các cơ sở nuôi áp dụng công nghệ xử lý nước thải bằng hồ sinh học trước khi xả ra môi trường sông tự nhiên. Việc hạn chế tối đa hóa chất công nghiệp trong ao nuôi giúp bảo đảm chất lượng vệ sinh thực phẩm và nâng tầm thương hiệu thủy sản địa phương. Mô hình này duy trì hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên và thích ứng hiệu quả với tình trạng biến đổi khí hậu ven biển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/10/2026
Quản lý nhà nước đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản trên địa bàn thành phố thuỷ nguyên thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo luận văn đƣợc cấu trúc với 3 chƣơng nội dung chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản ở địa phƣơng cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản trên địa bàn Thành phố Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản trên địa bàn Thành phố Thuỷ Nguyên, Thành phố Hải Phòng.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI MÔ HÌNH KINH TẾ TRANG TRẠI THUỶ SẢN Ở ĐỊA PHƢƠNG CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm 1.1 Khái niệm Quản lý Có nhiều quan niệm của các tác giả trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam về quản lý. Chẳng hạn nhƣ: F.W Taylor, cha đẻ của thuyết quản lý theo khoa học thì cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua ngƣời khác và biết đƣợc một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Fayol ngƣời đề xuất thuyết quản lý hành chính tổng hợp cho rằng: "Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra".

Ở đây tác giả nhấn mạnh đến các chức năng, quy trình của quản lý [Error! Reference source not found.] Các Mác, ngƣời nghiên cứu kinh điển về chủ nghĩa Tƣ bản và kinh tế tƣ bản chủ nghĩa đã từng khẳng định "Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn thì đều phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhƣng một dàn nhạc thì cẩn phải có một nhạc trƣởng"[3]. Theo Harold Koontz & Heinz Weihrich "Quản lý là quá trình thiết kế và duy trì một môi trƣờng trong đó các cá nhân, làm việc cùng nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các mục tiêu một cách hiệu quả." [24] Peter Drucker – “cha đẻ của quản trị hiện đại”cho rằng "Quản lý là một chức năng nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức bằng cách làm cho ngƣời khác làm việc" [Error! Reference source not found. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cơ bản đồng nhất quản lý là một hoạt động hƣớng đích, có chủ thể, đối tƣợng, nguyên tắc phƣơng pháp và mục tiêu chung, môi trƣờng quản lý chung.

Chẳng hạn nhƣ nghiên cứu của Đoàn Thị Thu Hà "quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tƣợng quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trƣờng”. Tác giả Phạm Quang Lê "Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối 14 tƣợng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất"[Error! Reference source not found. Dƣới góc độ của Đề án, tác giả cho rằng “Quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý tác động tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ, phương tiện, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhằm đạt mục tiêu của quản lý trong một môi trường nhất định”. Khái niệm Quản lý nhà nước Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nƣớc: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”[27].

Nhƣ vậy, quản lý nhà nƣớc là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nƣớc, đƣợc sửa dụng quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nƣớc đƣợc xem là một hoạt động chức năng của nhà nƣớc trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.uản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nƣớc là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tƣ pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nƣớc chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Quản lý nhà nƣớc đƣợc đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nƣớc theo nghĩa hẹp; theo đó quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực hành pháp, hay quản lý hành chính nhà nƣớc theo ngành, theo lĩnh vực (trong đề tài là lĩnh vực nông nghiệp, NTTS), bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tƣợng bị quản lý và vấn đề tƣ pháp đối với đối tƣợng quản lý cần thiết của Nhà nƣớc.

Khái niệm kinh tế trang trại Kinh tế trang trại có vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới và trang trại gia đình là một loại hình kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp các nƣớc. Ở Việt Nam, sự phát triển của các loại hình trang trại đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn gắn liền với phát triển công nghiệp và dịch vụ. Mô hình kinh tế trang trại đã phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn thúc đẩy sự tăng trƣởng và phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn…[21]. Đề án này, Khái niệm kinh tế trang trại đƣợc hiểu theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP định nghĩa: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm”[5].

Khái niệm hoạt động thủy sản, nuôi trồng thủy sản, mô hình kinh tế trang trại thủy sản a) Hoạt động thủy sản Theo Luật Thủy sản 2017 của Việt Nam, hoạt động thủy sản là hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; NTTS; khai thác thủy sản; chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản [13]. b) Nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủy sản là một trong các hoạt động của hoạt động thủy sản. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tƣ 03/2019/TT-BCT (có hiệu lực từ ngày 08/03/2019) quy định về Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dƣơng do Bộ trƣởng Bộ Công thƣơng ban hành thì: “Nuôi trồng thủy sản là việc nuôi trồng các sinh vật sống dưới nước bao gồm cá, động vật thân mềm, loài giáp xác, động vật không xương sống dưới nước khác hoặc thực vật thủy sinh từ các loại con giống như trứng, cá giống, cá con hoặc ấu trùng bằng cách can thiệp vào quá trình nuôi trồng hoặc tăng 16 trưởng nhằm thúc đẩy sinh sản như nuôi cấy, cho ăn hoặc bảo vệ khỏi các động vật ăn thịt” [1]. Theo Từ điển thuật ngữ nuôi trồng thủy sản của FAO năm 2008 thì: “Nuôi trồng thủy sản là hoạt động của con người đem con giống (tự nhiên hoặc nhân tạo) thả vào môi trường nuôi (ao nuôi hoặc thiết bị nuôi như lồng, bè.) và đối tượng nuôi được sở hữu trong suốt quá trình nuôi”[8].

Cũng theo FAO, một số loại hình nuôi trồng thủy sản bao gồm [8]: NTTS quy mô nhỏ (Aquaculture, backyard) là loại hình nuôi trồng theo sở thích, sản phẩm tự tiêu thụ hay để bán, sử dụng nguồn lực tự có, là “sân sau” với nguồn nƣớc và năng lƣợng tự có. NTTS nƣớc lợ (Aquaculture, brackishwater) là hình thức nuôi các đối tƣợng thủy sản trên vùng nƣớc lợ. NTTS bằng nguồn giống khác thác tự nhiên (Aquaculture, capture-based) là hình thức thu gom “giống” ở ngoài tự nhiên từ các giai đoạn con non đến con trƣởng thành, sau đó nuôi tiếp đến cỡ thƣơng phẩm với việc sử dụng các kỹ thuật nuôi. NTTS thƣơng mại (Aquaculture, commercial) là những cơ sở NTTS với mục đích thu đƣợc lợi nhuận tối đa.

Nuôi thƣơng mại đƣợc ngƣời sản xuất thực hiện ở cả quy mô lớn và nhỏ, tham gia tích cực vào thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, đầu tƣ kinh doanh (bao gồm cả tài chính và lao động) và tham gia vào bán các sản phẩm của họ ngoài trang trại. NTTS quảng canh (Aquaculture, extensive). Hệ thống sản xuất này đƣợc đặc trƣng bởi: mức độ kiểm soát thấp (về môi trƣờng, dinh dƣỡng, địch hại, cạnh tranh, tác nhân gây bệnh); chi phí sản xuất thấp, công nghệ thấp, và hiệu quả sản xuất thấp (năng suất không quá 500 kg/ha/năm); phụ thuộc nhiều vào khí hậu và chất lƣợng nƣớc địa phƣơng; sử dụng thủy vực tự nhiên (ví dụ đầm phá, vịnh, vũng) và thƣờng không xác định rõ các đối tƣợng nuôi. NTTS cao sản (Aquaculture, hyper-intensive) là hình thức nuôi thâm canh, có năng suất cao, đạt trên 200 tấn/ha/năm, sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp có đủ các chất dinh dƣỡng theo nhu cầu của loài, thả giống ƣơng 17 từ các trại sản xuất giống, không sử dụng phân bón, kiểm soát hoàn toàn địch hại và trộm cắp, có chế độ kiểm tra và điều phối cao, thƣờng xuyên cung cấp nƣớc tự chảy hay bơm, hoặc nuôi trong lồng, sử dụng máy sục khí và thay nƣớc hoàn toàn, tăng cƣờng kiểm soát chất lƣợng nƣớc cấp trong hệ thống ao, lồng, bể và mƣơng xây nƣớc chảy.

NTTS kết hợp (integrated) là hệ thống NTTS chung nguồn nƣớc, thức ăn, quản lý. với các hoạt động khác, thƣờng là với nông nghiệp, nông-công nghiệp, cơ sở hạ tầng khác nhƣ nƣớc thải, nhà máy điện. Nuôi trồng trên biển (marine water) là hình thức nuôi từ khi bắt đầu thả giống đến khi thu hoạch sản phẩm đều đƣợc thực hiện ở trên biển; ở giai đoạn sớm trong vòng đời của các loài nuôi này có thể ở nƣớc ngọt hoặc nƣớc mặn. Nuôi quảng canh cải tiến: nuôi trong một diện tích rộng, có bổ sung thêm giống, thức ăn, cải tạo dọn các bãi nhỏ, trông coi, bảo vệ thu hoạch.

c) Kinh tế trang trại thủy sản Kinh tế trang trại đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các trang trại đƣợc hình thành là lực lƣợng nòng cốt thúc đẩy sản xuất, chăn nuôi hàng hoá, qua đó giúp các địa phƣơng quy hoạch, hình thành vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Vũ Đình Mạnh (2025), Quản lý nhà nước đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản trên địa bàn thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Vũ, Đ. M. (2025). Quản lý nhà nước đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản trên địa bàn thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng [Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-mo-hinh-kinh-te-trang-trai-thuy-san-tren-dia-ban-thanh-pho-thuy-nguyen-thanh-pho-hai-phong/9387347775
IEEE
Đ. M. Vũ, "Quản lý nhà nước đối với mô hình kinh tế trang trại thuỷ sản trên địa bàn thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng," Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2025. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-mo-hinh-kinh-te-trang-trai-thuy-san-tren-dia-ban-thanh-pho-thuy-nguyen-thanh-pho-hai-phong/9387347775

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác

Đề án thạc sĩ quản lý nhà nước về trang trại thuỷ sản tại thành phố Thuỷ Nguyên, Hải Phòng mang đến cái nhìn toàn diện về thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế thủy sản bền vững. Tài liệu giúp người đọc nắm bắt cơ chế chính sách, quy hoạch và mô hình quản lý công hiệu quả tại địa phương. Bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm kinh nghiệm về <strong>quản lý kinh tế trang trại</strong> để so sánh thực tiễn liên tỉnh. Bên cạnh đó, tài liệu hỗ trợ làm rõ năng lực <strong>quản lý nhà nước tại Thủy Nguyên</strong> trong giai đoạn mới. Đồng thời, người đọc cũng có thêm góc nhìn thực tiễn về cải cách <strong>hành chính cấp xã Thủy Nguyên</strong> nhằm phục vụ phát triển kinh tế.