Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về kinh tế trang trại trên địa bàn cấp tỉnh Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bình Định Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Kinh tế trang trại và vai trò của kinh tế trang trại 1. Khái niệm, phân loại kinh tế trang trại 1. Trang trại và kinh tế trang trại TT là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông lâm ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nhưng có tính chất hàng hóa rõ rệt.
Các TT có sự tập trung, tích tụ cao hơn so với mức bình quân của kinh tế hộ gia đình trong xã hội ở từng vùng về các điều kiện sản xuất như đất đai, vốn, lao động đạt khối lượng và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa lớn hơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn. TT mang tính chất sản xuất hàng hóa NN, gắn liền với thị trường, vì vậy có nhu cầu cao hơn kinh tế hộ về tiếp thị, về sự tác động của khoa học - công nghệ vào sản xuất NN, sự phát triển của công nghiệp, nhất là đối với công nghệ bảo quản, chế biến nông - lâm - thủy sản, chế tạo công cụ nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản xuất và đáp ứng được đòi hỏi của khách hàng về quy cách, chất lượng sản phẩm để đảm bảo tiêu thụ hàng hóa cạnh tranh trên thị trường. KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong kinh tế NN, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản. Sự phát triển KTTT nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển NN bền vững; tạo việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lao động, dân cư xây dựng nông thôn mới.
Với tư cách là một loại hình kinh tế, KTTT bao gồm tổng thể các yếu tố vật chất với các hoạt động kinh tế - xã hội và các hoạt động này có quan hệ, tác 9 động với môi trường tự nhiên. Do vậy, KTTT bao gồm ba mặt cơ bản là kinh tế, xã hội và môi trường. Về mặt kinh tế: KTTT là loại hình tổ chức sản xuất trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Bao gồm tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại.
Các yếu tố vật chất của sản xuất trước hết là ruộng đất, tiền vốn và các tư liệu sản xuất khác được tập trung ở quy mô nhất định nhằm mục tiêu sản xuất hàng hóa. Trong loại hình KTTT, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ việc quyết định phương hướng sản xuất kinh doanh, kỹ thuật sản xuất, tổ chức sản xuất tới việc tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm. Về mặt xã hội: KTTT là loại hình kinh tế trong đó các quan hệ xã hội đan xen như: quan hệ giữa thành viên trong TT, quan hệ giữa chủ trại và người lao động trong TT, quan hệ giữa những người lao động trong nội bộ trang trại, quan hệ giữa chủ TT với các quan hệ thị trường khác. Về mặt môi trường, KTTT là một không gian sinh thái đa dạng.
Không gian sinh thái trong loại hình KTTT có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp đến hệ sinh thái của vùng. Theo đó KTTT là hình thức tổ chức sản xuất bao gồm nông - lâm - thủy sản có mục đính chính là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của một chủ TT, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn, trình độ kỹ thuật cao hơn phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ gắn với thị trường có hạch toán kinh tế theo hình thức của doanh nghiệp trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành và phát triển các TT. Hiện nay, nhiều TT đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như: sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ mới, công nghệ cao, nhờ đó tạo ra năng suất, chất lượng cao và đạt hiệu quả về kinh tế. Quá trình hình thành và phát triển của KTTT gắn liền với quá trình công nghiệp hóa của đất nước, phát triển 10 nền sản xuất hàng hóa và đang dần trở thành lực lượng chủ lực trong sản xuất hàng hóa nông sản, phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hóa trong công nghiệp.
Phân loại kinh tế trang trại KTTT đang phát triển dưới nhiều hình thức và thay đổi tùy theo đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng vùng miền lãnh thổ. Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ NN và Phát triển nông thôn, TT bao gồm những loại sau: TT chăn nuôi: Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 1. Loại hình TT chăn nuôi cũng khá đa dạng như chăn nuôi đại gia súc (bò, dê…) gia súc nhỏ (lợn, đà điểu), các TT gia cầm, chim bồ câu… TT trồng trọt: Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
Đây là loại hình TT vô cùng đa dạng và phong phú (tùy theo đặc điểm khí hậu đất đai của mỗi vùng miền), bao gồm các TT trồng cây ăn quả như na, vải, hồng, nhãn, cam bưởi…, cây công nghiệp như cao su, cà phê… TT lương thực, thực phẩm và các trang trại trồng hoa, cây cảnh… TT nuôi trồng thủy sản: Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. Đây là loại hình TT có tính chất đặc thù gắn liền với môi trường nước. Tùy vào địa hình khí hậu và môi trường nước ngọt hay nước mặn mà người dân có các hình thức sản xuất nuôi trồng thủy sản khác nhau. TT lâm nghiệp: Có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.
Là TT trồng rừng thường có quy mô lớn và được phát triển ở các vùng núi phía Bắc. Loại hình TT này không chỉ đòi hỏi vấn đề về vốn mà vấn đề thu hồi vốn thường bị kéo dài thời gian trong khoảng 5 đến 10 hoặc thậm chí là 15 năm. Do vậy, để người dân có khả năng 11 và yên tâm sản xuất kinh doanh TT lâm nghiệp, nhà nước cần có chính sách đầu tư, hỗ trợ về vốn, tín dụng lâu dài. TT tổng hợp: Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
Là loại hình TT sản xuất kết hợp theo các mô hình VAC (vườn - ao - chuồng), VAC-R (vườn - ao - chuồng - ruộng). Đối với các TT chuyên ngành (chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp, thủy sản…) là TT có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của TT trong năm. Trường hợp TT không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là TT tổng hợp. Theo Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT của Bộ NN và Phát triển nông thôn, TT bao gồm những loại sau: Thứ nhất, TT chuyên ngành được xác định theo lĩnh vực sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, diêm nghiệp và tỷ trọng giá trị sản xuất của lĩnh vực chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản xuất của trang trại trong năm.
Trang trại chuyên ngành được phân loại như sau: Một là, TT trồng trọt là TT có hoạt động sản xuất trồng trọt, chủ yếu là trồng cây hàng năm, cây lâu năm và các loại cây trồng đặc thù (như nấm ăn hoặc một số loại cây khác); nhân và chăm sóc cây giống nông nghiệp đáp ứng yêu cầu về tiêu chí kinh tế trang trại, có giá trị sản xuất bình quân phải đạt từ 1,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 1,0 ha trở lên. Hai là, TT chăn nuôi là TT có hoạt động sản xuất chăn nuôi tập trung tại khu vực riêng biệt dành cho sản xuất, kinh doanh chăn nuôi; chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò, ngựa, lừa, la, dê, cừu, lợn, gia cầm và các loại vật nuôi đặc thù trên cạn (như chim yến, ong, hươu hoặc một số động vật khác sống trên cạn thuộc Danh mục động vật khác được phép chăn nuôi) đáp ứng yêu cầu về tiêu chí KTTT, có giá trị sản xuất bình quân phải đạt từ 2,0 tỷ đồng/năm trở lên. TT chăn nuôi quy mô lớn: Từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên; TT chăn nuôi quy mô 12 vừa: Từ 30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi; TT chăn nuôi quy mô nhỏ: Từ 10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi. Ba là, TT lâm nghiệp là TT có hoạt động sản xuất trên đất quy hoạch sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, hoạt động chủ yếu là gieo ươm, trồng, chăm sóc và khai thác cây rừng hoặc các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ từ rừng đáp ứng yêu cầu về tiêu chí KTTT, có giá trị sản xuất bình quân đạt từ 1,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 10,0 ha trở lên.
Bốn là, TT nuôi trồng thủy sản là TT có hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản, sản xuất giống thuỷ sản đáp ứng yêu cầu về tiêu chí KTTT nuôi trồng thủy sản theo quy định, có giá trị sản xuất bình quân đạt từ 1,0 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 10,0 ha trở lên. Năm là, TT sản xuất muối là TT có hoạt động sản xuất muối từ nước biển, nước mặn ngầm hoặc khai thác từ mỏ muối đáp ứng yêu cầu về tiêu chí kinh tế trang trại có giá trị sản xuất bình quân đạt 0,35 tỷ đồng/năm trở lên và tổng diện tích đất sản xuất từ 1,0 ha trở lên.