Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm cơ bản liên quan đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm lao động, lao động nước ngoài Theo Từ điển Tiếng Việt, lao động là “hành động của con người diễn ra giữa người với tự nhiên”. Trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực của mình tác động vào giới tự nhiên, biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình [28,tr.
Hiện nay, khái niệm lao động đã được mở rộng, theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia (2006), lao động được định nghĩa là “hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội. Lao động được coi là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, làm cho con người ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn [7,tr. Ở phạm vi của luận văn, khái niệm lao động được nghiên cứu dưới giác độ là danh từ để chỉ người lao động. Người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định.
Họ có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động, nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết. Kết quả lao động của họ là sản phẩm dành cho người khác sử dụng và được trao đổi trên thị trường hàng hóa,sản phẩm chân tay thì giá trị trao đổi thấp, sản phẩm trí óc thì giá trị trao đổi cao hơn. Người lao động hiểu theo nghĩa rộng là người làm ăn công lương. Công việc của người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao động.
Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung cấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ 7 thuê lao động. Ở nghĩa hẹp người lao động là người làm các việc mang tính thể chất, thường trong nông nghiệp hoặc tiểu thủ nông nghiệp (đây là cách hiểu chịu sự ảnh hưởng của quan niệm cũ khi phân biệt người lao động với người trí thức). Dưới góc độ kinh tế học, người lao động là người trực tiếp cung cấp sức lao động – một dạng dịch vụ, hàng hóa cơ bản của nền kinh tế. Người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức và người khác.
Theo Luật Lao động Lào sửa đổi, bổ sung năm 2013 “người lao động là người đủ độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” [50]. Theo Điều 2 khoản 9 Luật Lao động Lào được sửa đổi năm 2013 thì khái niệm về người lao động nước ngoài được quy định như sau: “ Lao động nước ngoài là người nước ngoài đã và đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp và các nơi khác ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” [50]. Người sử dụng lao động nước ngoài không những là các tổ chức cá nhân người Lào tham gia hoạt động kinh doanh sản xuất mà còn là các tổ chức cá nhân người nước ngoài kinh doanh, sản xuất và dịch vụ, đầu tư theo quy định của pháp luật Lào. - Theo Điều 3 Quyết định số 5418/QĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội về việc cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc ở Lào thì người lao động nước ngoài là người nước ngoài đã được sự cho phép theo quy định của luật lao động và quy chế của nhà nước vào làm việc trong các đơn vị lao động và các dự án tại Lào được nhận lương tháng và công lao động.Người nhập cảnh vào để du lịch, đi thăm hỏi, buôn bán trái với quy định của pháp luật hoặc có mục đích khác sẽ không phải là lao động nước ngoài [34,tr.
8 - Theo Điều 4 Quyết định số 5418/LĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội về việc cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc ở Lào thì điều kiện để cấp phép nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài như sau: + Phải là cá nhân hoặc tổ chức, tính cả người Lào và người nước ngoài là đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án viện trợ có quyền xin nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài. Cá nhân được giao quyền đi xin nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài phải là cán bộ của các đơn vị lao động hoặc các dự án đó. + Là các đơn vị lao động, các dự án đã được cấp phép tiến hành kinh doanh đúng theo quy định của pháp luật, hàng tháng phải có kế hoạch nhập khẩu lao động nước ngoài và phải được Bộ Lao động và phúc lợi xã hội cấp cô ta nhập khẩu [34,tr. - Theo Điều 5 Quyết định số 5418/QĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội về việc cho phép nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc ở Lào thì Điều kiện lao động nước ngoài làm việc tại Lào như sau: + Là lao động có tay nghề, có trình độ chuyên môn phù hợp với chức vụ và nhu cầu cần thiết.
+ Có lý lịch tốt, rõ ràng, không giấu diếm tiền án, tiền sự để vào làm việc ở Lào. + Phải có độ tuổi từ 20 tuổi trở lên. + Phải truyền đạt kiến thức kỹ thuật chuyên môn cho lao động Lào. + Phải chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật và phong tục tập quán của Lào.
+ Có sức khỏe tốt, không có bệnh tật [34,tr. - Theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào, việc xin cấp cô ta nhập khẩu lao động nước ngoài của các đơn vị lao động như sau: 9 + Đơn xin cấp cô ta của đơn vị lao động. + Kế hoạch sử dụng người lao động nước ngoài đề nghị đối với Cục phát triển tay nghề lao động và tìm kiếm việc làm. Nếu sử dụng lao động ở tỉnh phải có ý kiến của Sở Lao động và phúc lợi xã hội tỉnh.
+ Giấy phép kinh doanh hoặc hợp đồng nhận thầu dự án có sự chứng nhận của chủ dự án liên quan (nếu có). + Bản sao giấy phép đầu tư. + Bản sao giấy phép thành lập nhà máy hoặc công ty. + Bản sao giấy đăng ký thuế.
Đơn vị lao động và các dự án phải nhập khẩu và sử dụng lao động nước ngoài vào trong các vị trí mà lao động Lào không thể đảm nhận được. Tuy nhiên phải thực hiện theo cô ta đã được Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội cấp phép theo tỷ lệ không quá 20% đối với lao động chân tay và 30% đối với lao động trí tuệ trong tổng số lao động ở trong đơn vị lao động. Việc sử dụng lao động nước ngoài phải có kế hoạch truyền đạt kiến thức về lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật cho lao động Lào từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc hợp đồng để lao động Lào có thể thay thế các công việc của lao động người nước ngoài. - Các bước xin nhập khẩu và đăng ký lao động nước ngoài thực hiện như sau: + Xin nhập khẩu lao động nước ngoài từ Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội.
+ Phải thông qua sự kiểm tra và ký duyệt của Cục xuất nhập cảnh/ Bộ Công an theo quy định. + Phải thông qua Bộ Ngoại giao để xin VISA lao động (LA B2) ở Lào hoặc Đại sứ quán Lào ở nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết có thể xin VISA ở các cửa khẩu quốc tế. 10 + Đăng ký và xin cấp thẻ lao động với Bộ Lao động và phúc lợi xã hội hoặc Sở Lao động và phúc lợi xã hội tỉnh và thành phố.
+ Đăng ký và xin cấp thẻ cư trú tạm thời với Cục quản lý người nước ngoài/Bộ Công an. + Trình kế hoạch về nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của các dự án đầu tư với Bộ Kế hoạch và đầu tư. - Việc xin phép nhập khẩu lao động nước ngoài bao gồm các văn bản sau: + Giấy phép cấp côta của Cục Phát triển tay nghề lao động và tìm kiếm việc làm. + Đơn xin nhập khẩu lao động nước ngoài.
+ Danh sách người lao động nước ngoài. + Giấy bảo lãnh của người sử dụng lao động. + Hợp đồng lao động. + Lý lịch của người lao động nước ngoài.
+ Giấy chứng nhận sức khỏe của lao động nước ngoài. + Bản sao hộ chiếu (Passport). Sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại nước CHDCND Lào là hành vi của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu khai thác sức lao động của công dân nước ngoài làm việc tại nước CHDCND Lào tuân theo các điều kiện của pháp luật nước CHDCND Lào và các điều ước quốc tế [34,tr. Đặc điểm của lao động nước ngoài Lao động người nước ngoài có một số đặc điểm cơ bản sau: Đặc điểm đầu tiên có thể nhận thấy người nước ngoài là người không có quốc tịch nước CHDCND Lào.
Họ có thể mang một hay nhiều quốc tịch nước ngoài hoặc không có quốc tịch. Quốc tịch là cơ sở pháp lý để xác minh 11 một người có phải là công dân của nước sở tại. Quyền và nghĩa vụ của công dân nước sở tại với người nước ngoài không giống nhau. Quốc tịch là căn cứ để người nước ngoài hưởng những quy chế pháp lý riêng, mặc dù về nguyên tắc, họ được hưởng quy chế “đãi ngộ như công dân” nhưng trong một số lĩnh vực, do không phải công dân nước Lào nên người nước ngoài không có quyền thực hiện (ví dụ: quyền bầu cử và ứng cử,…) Đặc điểm thứ hai chính là lao động nước ngoài mang màu sắc văn hóa dân tộc, ngôn ngữ, lối sống ….
của các quốc gia khác nhau, chính điều đó đòi hỏi trong công tác quản lý nhà nước về lao động nước ngoài cần quan tâm đến khía cạnh này để quản lý một cách hiệu quả. Đặc điểm thứ ba là đối tượng người lao động nước ngoài có độ tuổi trung bình còn trẻ, trình độ chuyên môn nhìn chung cao hơn, nhưng không đồng đều. Do nhu cầu từng ngành nghề khác nhau nên trình độ của người lao động nước ngoài có những đặc điểm khác nhau. Vai trò của lao động nước ngoài Một là, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh.
Là nước đang phát triển, Lào đứng trước thực tế là thiếu nhân lực có trình độ cao trong một số ngành kinh tế quốc dân.