Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về lao động và sử dụng lao động. Chương 2: Thực trạng lao động và sử dụng lao động ở quận Thủ Đức. Chương 3: Định hướng và giải pháp sử dụng hợp lí lao động ở quận Thủ Đức đến năm 2030. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1.
Cơ sở lí luận về lao động và sử dụng lao động 1. Lao động Khái niệm lao động “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó, con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người” (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2012). Theo Bộ luật lao động của nước Việt Nam, “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước” (Bộ luật lao động, 1994).
Như vậy, ta có thể hiểu lao động là những hoạt động có mục đích của con người tác động vào giới tự nhiên và cải biến tự nhiên để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và sản xuất của con người. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động là hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất, nó tạo ra sự thay đổi các giá trị tinh thần và của cải vật chất. Nhờ có lao động con người ngày càng hoàn thiện hơn về các hoạt động tạo ra năng suất và chất lượng của công việc từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. Lao động được nói đến trong đề tài không đơn thuần là hoạt động lao động đơn thuần nói chung mà nó còn đề cập đến hiệu quả và năng suất lao động khi con người tham gia hoạt động sản xuất.
Lao động được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ dân số có khả năng lao động mà bộ phận chủ yếu là những người trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động. Nguồn lao động Liên Hợp Quốc quan niệm: Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật. 10 Từ những khái niệm trên có thể hiểu NLĐ bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. NLĐ bao gồm những người đang hoạt động kinh tế hoặc không hoạt động kinh tế.
Tuổi lao động thường được tính từ 15 hoặc 16 – 60 tuổi đối với nam và 15 hoặc 16 – 55 tuổi đối với nữ. Nhưng trong thực tế, dân số trên và dưới tuổi lao động đều có thể tham gia lao động tuỳ thuộc vào sức khoẻ, khả năng đảm nhận vị trí việc làm và nhu cầu của thị trường lao động. Ở mỗi quốc gia tuổi lao động được quy định khác nhau nên quan niệm về NLĐ cũng khác nhau. Ở Việt Nam năm 1994, tuổi lao động được tính từ: 16 – 60 tuổi đối với nam, từ 16 – 55 tuổi đối với nữ.
Căn cứ vào Điều 6 của Bộ luật lao động của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã sửa đổi bổ sung năm 2002, qui định dân số trong tuổi lao động có thay đổi: từ 15 – 60 tuổi đối với nam và từ 15 – 55 tuổi đối với nữ. Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 năm. Theo quy định mới tại Bộ luật lao động năm 2019 thì tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035. Theo điều tra mẫu quốc gia về lao động – việc làm của Tổng cục Thống kê Việt Nam 2009: NLĐ bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang không có việc làm (thất nghiệp) hay đang làm nội trợ hoặc chưa có nhu cầu làm việc.
Việc quy định độ tuổi lao động dựa trên các yếu tố: sinh học, sức khoẻ, trách nhiệm, thể trạng, trình độ phát triển KT - XH. Như vậy, ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu nguồn lao động là bộ phận dân số trong và ngoài độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có việc làm hay không có việc làm mà có nhu cầu làm việc. Cơ cấu lao động Cơ cấu lao động là tình trạng kết hợp các bộ phận hợp thành LĐ của một nước theo từng mặt, từng tiêu chuẩn nhất định. Cơ cấu lao động được thể hiện dưới nhiều 11 dạng ví dụ như: cơ cấu theo giới tính, cơ cấu theo độ tuổi, cơ cấu theo trình độ văn hoá, cơ cấu theo trình độ CMKT, cơ cấu theo quan hệ sản xuất, cơ cấu theo ngành, cơ cấu theo lãnh thổ,.
Cơ cấu lao động theo độ tuổi Cơ cấu lao động theo độ tuổi là sự tập hợp những nhóm người trong độ tuổi lao động sắp xếp theo những nhóm tuổi nhất định, Sự thay đổi cơ cấu lao động theo độ tuổi phụ thuộc chủ yếu vào sự thay đổi tỉ suất sinh, tỉ suất tử, tuổi thọ trung bình,. của dân số. Hiện nay của các quốc gia trên thế giới đang có xu hướng chung là mức sinh giảm dần, mức gia tăng lao động cũng giảm dần cùng với sự già đi của dân số. Tỉ lệ lao động trong nhóm độ tuổi trẻ giảm xuống, nhóm lao động lớn tuổi tăng lên.
Trên thế giới người ta thường chia dân số thành ba nhóm tuổi: - Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi. - Nhóm tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi). - Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên. Theo Luật lao động ở Việt Nam, độ tuổi lao động được quy định đối với nam từ 15 đến hết 59 tuổi, với nữ từ 15 đến hết 54 tuổi.
Tuỳ theo từng quốc gia mà có sự phân chia độ tuổi lao động khác nhau, nhưng có chung một số đặc điểm sau: - Quốc gia có dân số trẻ: có tỉ lệ nhóm tuổi dưới 15 tuổi chiếm hơn 35% và nhóm 60 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ dưới 10% tổng dân số. - Quốc gia có dân số già: có tỉ lệ nhóm tuổi dưới 15 tuổi chiếm dưới 25% và nhóm 60 tuổi chiếm hơn 15% tổng dân số. Trong dân số học, cơ cấu lao động theo độ tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh, tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và lao động của quốc gia, vùng, khu vực hay đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn. Cơ cấu lao động theo giới Cơ cấu lao động theo giới biểu thị mối tương quan giữa lao động nam so với lao động nữ hoặc so với tổng số lao động (đơn vị tính: %).
Cơ cấu lao động theo giới biến động theo thời gian và khác nhau ở từng nước, từng khu vực. Ngoài ra cơ 12 cấu lao động còn thay đổi theo loại hình công việc. Nam giới tham gia vào những ngành đòi hỏi có sức khoẻ, sức bền cao, khả năng chịu áp lực công việc lớn, nữ giới thường làm những công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo, cẩn thận. Cơ cấu lao động theo giới phản ánh tính chất, đặc điểm, loại hình công việc và mức độ bình đẳng nam – nữ.
Trong một chừng mực nhất định nó ảnh hưởng đến phân bố sản xuất, tổ chức đời sống xã hội và hoạch định chiến lược phát triển KT- XH của các quốc gia. Khi phân tích cơ cấu lao động theo giới, người ta không chỉ chú ý đến khía cạnh sinh học, tâm lí học mà còn quan tâm tới khía cạnh xã hội như vị thế, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của giới nam và giới nữ. Xu hướng chung hiện nay trên thế giới khi nền kinh tế càng phát triển, vấn đề bình đẳng giới được cải thiện thì xu hướng gia tăng tỉ lệ lao động nữ ngày càng cao; nữ giới ngày càng tham gia vào nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực và đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng. Tuy nhiên, trên thế giới vẫn có nhiều quốc gia đang ở mức độ báo động về sự mất cân đối giới tính trong lao động.
Cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn kỹ thuật Cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá là tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của một quốc gia đồng thời phản ánh trình độ dân trí và học vấn của dân cư. Đây là một trong những chỉ số cơ bản để xây dựng chỉ số phát triển con người (HDI). Bao gồm: tỉ lệ biết chữ của người lớn và tỉ lệ nhập học của các cấp học (tiểu học, trung học, cao đẳng đại học và sau đại học). Để xác định cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá người ta thường dựa vào số liệu thống kê tỉ lệ người biết chữ (từ 15 tuổi trở lên) và số năm đi học của những người từ 25 tuổi trở lên.
Trong thực tế, chỉ số bình quân lớp học cao nhất tính theo đầu người của tổng dân số hoạt động kinh tế thường thấp hơn so với tổng số dân. Để có dữ liệu phân tích tình trạng biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên), người ta thường xác định tỉ lệ theo từng địa phương và theo từng giới tính, tôn giáo, dân tộc, nhóm tuổi, ngành nghề,. Ở Việt Nam công việc này thường được tiến hành 10 năm 1 lần vào năm cuối mỗi thập kỉ (được gọi là cuộc tổng điều tra dân số). 13 Trước năm 1975, đã tiến hành 2 đợt điều tra dân số tại miền Bắc vào năm 1960 và 1974.
Sau 1975, đã thực hiện 5 đợt tổng điều tra dân số vào các năm 1979, 1989, 1999, 2009 và 2019. Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật phản ánh trình độ chuyên môn kĩ thuật (CMKT) của người lao động (từ 15 đến 59 tuổi đối với nam, 15 đến 54 tuổi đối với nữ) của một nước, một vùng. Cơ cấu lao động theo trình độ CMKT thường được thể hiện qua các cấp bậc: không có trình độ CMKT và có trình độ CMKT (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học). Cùng với những tiến bộ của khoa học kĩ thuật hiện đại và sự phát triển của tri thức, người lao động có trình độ CMKT đang ngày chiếm vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của đất nước.