CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Làng nghề truyền thống 1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm của làng nghề truyền thống 1. Khái niệm làng nghề truyền thống Có nhiều định nghĩa về làng nghề, trong đó tiêu biểu như sau: “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng.
Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương” [53, tr. Luận văn thạc sĩ Luật Học “Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian” [21, tr. “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa” [52, tr.
“Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết tất cả các dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại quê mình” [50, tr.
Về mặt pháp lý, Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của 7 Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, theo đó: Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính chất riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một hoặc thất truyền. Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Làng nghề truyền thống phải có đủ các tiêu chí của làng nghề, đồng thời phải có ít nhất một nghề truyền thống tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Luận văn thạc sĩ Luật Học Từ những phân tích trên, trong phạm vi luận văn này, khái niệm làng nghề truyền thống được hiểu là một đơn vị thôn làng đã và đang làm ra một hoặc một số loại sản phẩm tiêu dùng hay nghệ thuật bằng những phương pháp truyền thống từ lâu đời và nguyên liệu đặc thù ở địa phương, được pháp luật công nhận có đủ các tiêu chí của một làng nghề truyền thống. Phân loại và đặc điểm của làng nghề truyền thống ở Việt Nam Những cứ liệu lịch sử đã chứng minh các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây. Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, để chế tác những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, dần dần phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông, từ đó hình thành và phát triển nên các làng nghề truyến thống. Dù nhiều làng nghề đã biến mất cùng với thời gian, nhưng hiện nay, các con số thống kê cho thấy, Việt Nam có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề, có 8 1.748 làng nghề đầy đủ các tiêu chí theo quy định của Chính phủ, theo đó các làng nghề thường phát triển các nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, điêu khắc đá.29] Theo chất liệu tạo ra sản phẩm thì các làng nghề được chia ra làm 14 nhóm: Đá mỹ nghệ; Đồ gỗ (đồ mộc dân dụng, gỗ mỹ nghệ, điêu khắc gỗ, làm trống); Mây tre đan, kể cả các sản phẩm đan lát, bện thủ công (kể cả bàn ghế, nón lá); Cói; Gốm sứ; Sơn mài, khảm trai; Thêu ren, Dệt (vải, khăn tay, áo, khăn quàng, kể cả dệt thổ cẩm; Cây cảnh (trồng và kinh doanh); Giấy thủ công; Tranh nghệ thuật (bằng hoa khô, tre hun khói, lá khô, ốc…), hoa các loại bằng vải, lụa, giấy; Trò chơi dân gian (sản xuất và biểu diễn và biểu diễn rỗi cạn, rối nước, tò he); Sản phẩm kim khí (đồ đồng, sắt, nhôm…); Chế biến nông sản và thực phẩm (các loại nước chấm, bún bánh, miến dong, rượu, trà, mạch nha, mật…) [58, tr.
Tuy nhiên, theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam thì làng nghề được chia ra làm 16 nhóm như sau: Điêu khắc, chạm khắc gỗ; Thủ công mỹ nghệ; Mây tre đan; Luận văn thạc sĩ Luật Học Gốm, sứ, pha lê; Dâu tằm; Làm giấy; Làm trống; Chế biến thực phẩm; Thêu, dệt, lụa; Đánh bắt, chế biến hải sản; Đúc đồng, chạm bạc; Đóng, sửa chữa tàu thuyền; Sản xuất hàng dân dụng; Hoa, cây cảnh; Làm chiếu; Sơn mài. Việc phân nhóm như trên chỉ là quy ước, bởi cho đến nay chưa có nghiên cứu đầy đủ về phương pháp luận phân nhóm làng nghề. Và mặc dù được phân nhóm, song các làng nghề truyền thống thường có những đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề truyền thống là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp. Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn, sau đo các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau.
Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân. Thứ hai, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu, công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công 9 nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc, nhiều loại sản phẩm có công nghệ - kỹ thuật cũng không thể bằng đôi tay khéo léo của người thợ, mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hóa và điện khí hóa nhiều khâu trong sản xuất, song cũng chỉ có một số nghề có khả năng cơ giới hóa được một số công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm. Thứ ba, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ. Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ trên địa bàn, cũng có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài.
Thứ tư, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân. Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển nên hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào với nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm Luận văn thạc sĩ Luật Học bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn. Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo.
Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng, sau hòa bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng va phong phú hơn. Thứ năm, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước,. các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật.
Sản phẩm của các làng nghề truyền thống thể hiện một cách sâu sắc các giá trị văn hóa, bảo tồn được những nét, những sắc thái độc đáo của dân tộc Việt Nam: thể hiện tư duy của người Việt, triết lý Á Đông, phong tục 10 tập quán, truyền thống dân tộc, phong cách sống.qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí và cấu trúc của sản phẩm. Chỉ có ở nghề truyền thống mới lột tả hết giá trị nhân văn, giá trị văn hóa. Những sản phẩm thủ công đều chứa đựng tình cảm, lòng yêu thiên nhiên đất nước qua bàn tay tài hoa của con người. Đây cũng chính là ưu thế của các sản phẩm truyền thống của người Việt khi mở rộng giao lưu trên thị trường quốc tế và mở rộng quan hệ văn hóa, nghệ thuật với các nước trên thế giới.
Thứ sáu, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp. Sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương. Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề.