Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế nông thôn Việt Nam đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ với hơn 5.411 làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc, trong đó ngành thủ công mỹ nghệ đóng góp kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,7 tỷ USD mỗi năm. Tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định – vùng đất giàu truyền thống văn hóa lịch sử, chính quyền địa phương đã công nhận 24 làng nghề theo các quy định của Nghị định 66/2006/NĐ-CP và Nghị định 52/2018/NĐ-CP. Hằng năm, giá trị sản xuất bình quân của các làng nghề trên địa bàn đạt từ 350 đến 400 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 3.200 lao động và lên tới 5.200 lao động vào thời gian cao điểm, với mức thu nhập bình quân đạt 5,2 triệu đồng một người mỗi tháng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, nhiều làng nghề truyền thống tại địa phương có nguy cơ mai một nghiêm trọng, tiêu biểu như nghề đan đát tại xã Nhơn Mỹ, nghề gốm tại xã Nhơn Hậu hay nghề đúc đồng tại phường Đập Đá. Các cơ sở sản xuất phần lớn có quy mô manh mún, thiếu vốn đầu tư, trình độ quản lý hạn chế và đối mặt với thách thức ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước cấp huyện còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về quy hoạch, cơ chế hỗ trợ và tổ chức bộ máy.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Trần Thiện Ngôn, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Ngân Loan tại Trường Đại học Quy Nhơn, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết này. Mục tiêu nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước đối với làng nghề tại thị xã An Nhơn giai đoạn 2016-2020, từ đó xác lập phương hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc thúc đẩy cơ cấu kinh tế địa phương, nâng cao thu nhập người dân và tạo tiền đề vững chắc để thị xã An Nhơn phát triển từ đô thị loại III trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Bình Định vào năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận vững chắc kết hợp giữa Lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế, Lý thuyết phát triển kinh tế nông thôn bền vững và Lý thuyết cụm liên kết ngành. Mô hình nghiên cứu tiếp cận quản lý nhà nước đối với làng nghề ở cấp độ chính quyền địa phương thông qua 4 chức năng cốt lõi: hoạch định quy hoạch và chính sách phát triển; tổ chức thực thi và hỗ trợ sản xuất kinh doanh; kiểm tra, thanh tra và bảo vệ môi trường; kiện toàn bộ máy và đào tạo nguồn nhân lực.

Khung lý thuyết của đề tài làm rõ ba khái niệm then chốt:

  • Làng nghề: Thiết chế kinh tế - xã hội tại khu vực nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, trong đó các hộ gia đình sinh sống chủ yếu bằng nghề thủ công hoặc phi nông nghiệp và có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế, văn hóa.
  • Làng nghề truyền thống: Làng nghề đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chung và có nghề truyền thống hình thành trên 50 năm, tạo ra sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc gắn với tên tuổi nghệ nhân hoặc địa danh.
  • Quản lý nhà nước cấp huyện đối với làng nghề: Sự tác động có tổ chức bằng pháp quyền của chính quyền cấp huyện nhằm định hướng, điều tiết, hỗ trợ và kiểm soát hoạt động của các cơ sở sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương theo hướng bền vững.

Hệ thống thể chế và tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý được luận văn chuẩn hóa dựa trên Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 44/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2016-2020 của Ủy ban nhân dân thị xã An Nhơn, Phòng Kinh tế thị xã, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định cùng Niên giám thống kê địa phương. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu và phỏng vấn chuyên gia.

Cỡ mẫu khảo sát thực tế bao gồm 120 cơ sở sản xuất và hộ gia đình làm nghề tại 5 xã, phường trọng điểm gồm Nhơn Hậu, Nhơn Lộc, Nhơn An, Nhơn Mỹ và Đập Đá, kết hợp phỏng vấn sâu 15 cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý kinh tế cấp thị xã, cấp xã. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho 4 nhóm ngành nghề chính: sản xuất hàng tiêu dùng thông thường, chế biến nông lâm thủy sản - thực phẩm, sinh vật cảnh và tiểu thủ công nghiệp.

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu số liệu qua các năm, phương pháp phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức kết hợp tổng hợp định tính và định lượng. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác thực trạng phân bổ nguồn lực, nguồn vốn, quy mô doanh thu và việc làm của làng nghề, đồng thời đánh giá khách quan năng lực thể chế và hiệu quả của các chính sách khuyến công tại địa phương trong toàn bộ timeline nghiên cứu từ năm 2016 đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề làng nghề tại thị xã An Nhơn có sự phân hóa rõ nét về số lượng cơ sở. Tính đến năm 2020, toàn thị xã có tổng cộng 2.694 cơ sở sản xuất hoạt động trong 24 làng nghề được công nhận. Trong đó, nhóm sản xuất hàng tiêu dùng thông thường chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.525 cơ sở (đạt 56,6%), tiếp đến là nhóm chế biến thực phẩm với 650 cơ sở (chiếm 24,1%), nhóm trồng mai kiểng có 373 cơ sở (chiếm 13,8%) và nhóm tiểu thủ công nghiệp có 146 cơ sở (chiếm 5,4%). Nhóm hàng tiêu dùng thông thường giữ vai trò quan trọng nhất trong việc giải quyết việc làm thời vụ cho lao động nông nhàn.

Thứ hai, giá trị sản xuất và mức thu nhập có sự chênh lệch sâu sắc giữa các làng nghề. Hằng năm, doanh thu làng nghề đóng góp từ 350 đến 400 tỷ đồng vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của thị xã. Nghề trồng mai cảnh tại xã Nhơn An với hơn 1.200 hộ tham gia mang lại thu nhập bình quân từ 7 đến 10 triệu đồng một hộ mỗi tháng, cung cấp ra thị trường khoảng 10.000 chậu mai mỗi năm. Làng nghề rượu Bàu Đá tại xã Nhơn Lộc đạt doanh thu ổn định với thu nhập người lao động từ 5 đến 6 triệu đồng mỗi tháng. Ngược lại, nghề chằm nón lá tại Nhơn Mỹ và Nhơn Thành dù thu hút trên 1.000 lao động sản xuất hơn 3.000 chiếc nón mỗi ngày nhưng thu nhập bình quân chỉ đạt từ 0,4 đến 0,5 triệu đồng một người mỗi tháng.

Thứ ba, quy mô vốn đầu tư của các cơ sở làng nghề còn ở mức rất thấp. Số liệu điều tra cho thấy vốn đầu tư bình quân tại các cơ sở làng nghề truyền thống năm 2016 chỉ đạt 48 triệu đồng một cơ sở, tương ứng mức vốn đầu tư trên lao động là 3,0 triệu đồng một người. Trong khi đó, nhu cầu đổi mới máy móc thiết bị như máy tiện gỗ, máy tráng bánh hay lò sấy đòi hỏi mức vốn từ 60 đến 80 triệu đồng, cá biệt các cơ sở gỗ mỹ nghệ cần từ 150 đến 250 triệu đồng. Khoảng trống tài chính này khiến hơn 85% cơ sở gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô.

Thứ tư, công tác quản lý nhà nước đã đạt được những bước tiến về thể chế và môi trường nhưng nguồn lực hỗ trợ còn phân tán. Thị xã đã phê duyệt phương án bảo vệ môi trường cho 100% (24/24) làng nghề. Giai đoạn 2016-2020, nguồn kinh phí khuyến công đã hỗ trợ đổi mới thiết bị cho nhiều mô hình (như máy sấy bánh tráng 40 triệu đồng, máy làm đậu khuôn 40 triệu đồng, thiết bị sấy gỗ 75 triệu đồng), đồng thời hỗ trợ kinh phí tổ chức lễ hội giỗ tổ nghề tăng từ 5 triệu đồng năm 2015 lên 25 triệu đồng năm 2020. Tuy nhiên, thị xã vẫn chưa bố trí được cán bộ chuyên trách quản lý làng nghề tại cấp xã.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực chứng trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu cơ sở sản xuất theo ngành nghề (thể hiện tỷ trọng 56,6% của hàng tiêu dùng và 24,1% của chế biến thực phẩm) và bảng so sánh chênh lệch thu nhập giữa các làng nghề chủ lực. Một biểu đồ cột kết hợp đường biểu diễn giữa mức vốn đầu tư bình quân 48 triệu đồng và nhu cầu vốn thực tế 250 triệu đồng sẽ làm nổi bật điểm nghẽn lớn nhất của kinh tế làng nghề An Nhơn.

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên xuất phát từ việc phần lớn cơ sở sản xuất hoạt động theo mô hình hộ gia đình tự phát, mặt bằng chật hẹp gắn liền với khu dân cư, thiếu liên kết chuỗi giá trị và tâm lý trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước. Khi so sánh với kinh nghiệm quản lý làng nghề tại tỉnh Quảng Nam (nơi có 28 làng nghề được công nhận và 16 làng nghề trọng điểm được đầu tư gắn kết chặt chẽ với các tuyến du lịch quốc tế) hay tỉnh Bắc Ninh (nơi làng nghề đóng góp hơn 8% GDP toàn tỉnh với 77.000 lao động và 8 thương hiệu địa danh được bảo hộ), công tác quản lý tại thị xã An Nhơn còn thiếu tính đột phá trong việc thương mại hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu tập thể và phát triển mô hình du lịch trải nghiệm làng nghề.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với làng nghề trên địa bàn thị xã An Nhơn đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch không gian làng nghề gắn với du lịch sinh thái và phát triển đô thị. Ủy ban nhân dân thị xã An Nhơn chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng triển khai hoàn thành quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 cho các làng nghề trọng điểm như Làng nghề rượu Bàu Đá (quy mô trên 12 ha), Làng nghề tiện gỗ mỹ nghệ Nhơn Hậu và Làng rèn Tây Phương Danh trước năm 2025. Mục tiêu đạt 100% làng nghề truyền thống tiêu biểu có hạ tầng kết nối đồng bộ với các tour du lịch của tỉnh Bình Định.

Thứ hai, đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và giải quyết ô nhiễm môi trường. Phòng Kinh tế phối hợp Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã tham mưu phân bổ nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2021-2026 để mở rộng đường giao thông trục chính làng nghề đạt tỷ lệ kiên cố hóa trên 80%, xe cơ giới lưu thông thuận lợi. Xây dựng hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải tập trung tại 100% làng nghề chế biến thực phẩm và đúc kim loại, đồng thời nhân rộng mô hình sản xuất sạch hơn tại 5 làng nghề trồng mai cảnh xã Nhơn An.

Thứ ba, đẩy mạnh chính sách khuyến công, hỗ trợ vốn và đổi mới công nghệ. Hội đồng Khuyến công thị xã An Nhơn phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách xã hội nâng định mức hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến lên mức từ 100 đến 150 triệu đồng cho mỗi cơ sở sản xuất; tạo điều kiện cho hơn 500 lượt hộ sản xuất tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp trong giai đoạn 2021-2025 để đổi mới thiết bị.

Thứ tư, nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước và đào tạo nguồn nhân lực nghề. Phòng Nội vụ phối hợp Phòng Kinh tế thị xã tổ chức bồi dưỡng định kỳ 100% cán bộ phụ trách kinh tế tại 15 xã, phường về kỹ năng quản trị kinh tế nông thôn và chuyển đổi số; hàng năm phối hợp tổ chức tối thiểu 10 lớp đào tạo nghề, truyền nghề cho hơn 1.000 lao động trẻ, đảm bảo tỷ lệ lao động qua đào tạo tại làng nghề đạt trên 45% vào năm 2025.

Thứ năm, đổi mới hình thức tổ chức sản xuất và phát triển thương hiệu sản phẩm. Ủy ban nhân dân thị xã vận động chuyển đổi các cơ sở cá thể thành lập mới tối thiểu 5 hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tư nhân tại các làng nghề; hỗ trợ 100% các làng nghề chủ lực đăng ký nhãn hiệu tập thể, mã số vùng trồng, gắn tem truy xuất nguồn gốc và đưa tối thiểu 15 sản phẩm làng nghề đạt chuẩn OCOP từ 3 đến 4 sao lên các sàn thương mại điện tử trước năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và hữu ích cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị xã, chuyên viên Phòng Kinh tế, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy hoạch phát triển cụm công nghiệp làng nghề, lập kế hoạch khuyến công hàng năm và xây dựng quy chế phối hợp bảo vệ môi trường nông thôn.
  • Các cơ sở sản xuất, chủ hộ kinh doanh và hợp tác xã làng nghề: Cung cấp thông tin chi tiết về các quy định pháp luật hiện hành theo Nghị định 52/2018/NĐ-CP, quy trình tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ đổi mới máy móc thiết bị từ quỹ khuyến công thị xã và định hướng chuyển đổi mô hình kinh doanh gắn với thị trường du lịch.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Là nguồn tài liệu học thuật giá trị cho chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cung cấp hệ thống số liệu thứ cấp và sơ cấp chuẩn xác về bức tranh làng nghề khu vực Nam Trung Bộ giai đoạn 2016-2020.
  • Các doanh nghiệp du lịch lữ hành và tổ chức xúc tiến thương mại: Giúp các đơn vị lữ hành nhận diện tiềm năng, đặc trưng sản phẩm văn hóa của từng làng nghề (như Rượu Bàu Đá, Mai vàng Nhơn An, Nón lá Nhơn Mỹ) để xây dựng các tour du lịch trải nghiệm văn hóa làng nghề độc đáo tại Bình Định.

Câu hỏi thường gặp

Thị xã An Nhơn hiện có bao nhiêu làng nghề được công nhận và cơ cấu sản xuất phân bổ ra sao? Thị xã An Nhơn có 24 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định công nhận với 2.694 cơ sở sản xuất. Cơ cấu sản xuất bao gồm 4 nhóm chính: hàng tiêu dùng thông thường chiếm 56,6% (1.525 cơ sở), chế biến thực phẩm chiếm 24,1% (650 cơ sở), trồng mai cảnh chiếm 13,8% (373 cơ sở) và tiểu thủ công nghiệp chiếm 5,4% (146 cơ sở).

Thực trạng quy mô vốn và công nghệ sản xuất tại các cơ sở làng nghề An Nhơn như thế nào? Quy mô vốn tại các cơ sở làng nghề rất nhỏ bé, đạt mức bình quân 48 triệu đồng một cơ sở và 3,0 triệu đồng một lao động. Hầu hết cơ sở sản xuất bằng phương pháp thủ công truyền thống. Để đầu tư máy móc hiện đại cần từ 60 đến 250 triệu đồng, vượt quá khả năng tài chính của đại đa số hộ dân nếu không có tín dụng ưu đãi.

Đóng góp kinh tế và thu nhập của người lao động làng nghề đạt mức bao nhiêu? Làng nghề An Nhơn tạo ra doanh thu từ 350 đến 400 tỷ đồng mỗi năm, giải quyết việc làm cho 3.200 đến 5.200 lao động với thu nhập bình quân 5,2 triệu đồng một người mỗi tháng. Thu nhập có sự phân hóa mạnh, cao nhất là nghề mai cảnh đạt 7 đến 10 triệu đồng một hộ mỗi tháng và thấp nhất là nghề nón lá chỉ đạt khoảng 0,4 đến 0,5 triệu đồng.

Địa phương đã rút ra bài học kinh nghiệm gì từ các tỉnh Quảng Nam và Bắc Ninh? Từ thực tiễn của tỉnh Quảng Nam với 28 làng nghề phát triển gắn kết du lịch và tỉnh Bắc Ninh với 8 thương hiệu làng nghề OCOP đóng góp hơn 8% GDP tỉnh, thị xã An Nhơn rút ra bài học về việc quy hoạch làng nghề gắn với tuyến điểm du lịch, xây dựng nhãn hiệu tập thể và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới.

Giải pháp trọng tâm nào để bảo vệ môi trường làng nghề tại An Nhơn đến năm 2030? Chính quyền thị xã đã phê duyệt phương án bảo vệ môi trường cho 100% làng nghề. Giai đoạn tới, địa phương tập trung di dời các cơ sở ô nhiễm cao (như sản xuất bún tươi, đúc kim loại) vào các cụm công nghiệp tập trung có hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn và đẩy mạnh mô hình sản xuất sạch hơn cho làng nghề mai cảnh.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng 24 làng nghề với 2.694 cơ sở sản xuất và hơn 3.200 lao động thường xuyên tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định giai đoạn 2016-2020.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn căn bản về nguồn vốn đầu tư bình quân thấp (48 triệu đồng một cơ sở), hạ tầng giao thông chưa đồng bộ và nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề truyền thống.
  • Tổng kết sâu sắc cơ sở lý luận quản lý nhà nước cấp huyện đối với làng nghề và đúc kết các bài học kinh nghiệm từ mô hình phát triển du lịch làng nghề tại Quảng Nam, Bắc Ninh.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp khả thi bao gồm hoàn thiện quy hoạch không gian 1/500, nâng cấp hạ tầng môi trường, tăng định mức hỗ trợ khuyến công lên 100-150 triệu đồng, kiện toàn bộ máy quản lý và phát triển thương hiệu OCOP.
  • Xác định lộ trình phát triển bền vững, tạo động lực đưa kinh tế làng nghề đóng góp tích cực vào mục tiêu nâng cấp thị xã An Nhơn thành thành phố trực thuộc tỉnh Bình Định trước năm 2025.

Đóng góp khoa học lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén và hệ thống giải pháp đồng bộ cho công tác quản lý nhà nước về kinh tế làng nghề tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Trong giai đoạn 2021-2025 và tầm nhìn 2030, Ủy ban nhân dân thị xã An Nhơn và các cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị này thành các đề án hành động cụ thể. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm được khuyến khích tham khảo chi tiết toàn văn công trình để ứng dụng hiệu quả vào công tác thực tiễn.