phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, 8 tiết. Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ 1. Khái niệm, các tiêu chí và đặc điểm làng nghề 1. Khái niệm làng nghề Trong những năm qua, có nhiều tác giả nghiên cứu về LN, LNTT và tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể: Tác giả Mai Thế Hởn nhận định: “LN là làng ở nông thôn, có một hay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp để sản xuất độc lập.
Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của làng” [4]. Tác giả Trần Công Sách khẳng định: “LN còn được hiểu bao gồm một cụm dân cư sinh sống trong một làng, có một hoặc một số nghề phi nông nghiệp được hình thành và phát triển, trước hết là thủ công nghiệp. Thu nhập và tỷ lệ lao động của những ngành nghề đó chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu nhập và lao động của làng” [14]. Theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2018 về phát triển ngành nghề nông thôn quy định: “LN là một hoặc nhiều cụm dân cư, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau"; “LNTT là LN có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.
LNTT phải có đủ các tiêu chí của LN, đồng thời phải có ít nhất một nghề truyền thống" [5]. Từ các quan niệm trên, có thể hiểu: LN là một thiết chế KT - XH ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, trong đó bao gồm nhiều hộ 7 gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa. LN là trung tâm SXHH, là nơi quy tụ nhiều nghệ nhân, thợ giỏi và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính chất truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phƣờng hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và thành viên luôn có những ƣớc chế gia tộc và xã hội (đối với một số LNTT). LN bao gồm: LNTT và LN mới.
LNTT: là những thôn, làng làm nghề thủ công truyền thống có từ lâu đời, qua nhiều năm, nhiều thế kỷ và các bí quyết của nghề đƣợc giữ bí mật và lƣu truyền từ đời này sang đời khác. LN mới: là những LN đƣợc hình thành do nhu cầu phát triển kinh tế mà một số đông các hộ tham gia chuyên sản xuất một mặt hàng nào đó. Các tiêu chí công nhận làng nghề Tiêu chí công nhận NTT, LN, LN, LNTT đƣợc quy định tại Điều 4, Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2018 về phát triển ngành nghề nông thôn, cụ thể: Tiêu chí công nhận nghề truyền thống Nghề đƣợc công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí sau: a) Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận. b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.
c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của LN. Tiêu chí công nhận LN LN đƣợc công nhận phải đạt cả 03 tiêu chí sau: a) Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động NNNT quy định tại Điều 4 Nghị định này. b) Hoạt động SXKD ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm 8 đề nghị công nhận. c) Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trƣờng LN theo quy định của pháp luật hiện hành.
Tiêu chí công nhận LNTT LNTT phải đạt tiêu chí LN quy định nói trên và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định nói trên [5]. Đặc điểm làng nghề Một là, Hoạt động LN gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp Các LN xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp đƣợc tách dần nhƣng không rời khỏi nông thôn, ngƣời thợ thủ công trƣớc hết và đồng thời là ngƣời nông dân. Ở trong các LN, đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề tiểu thủ công nghiệp vẫn tham gia SXNN. Nhƣ vậy, LN và SXNN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Các LN tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao động lúc nông nhàn, đồng thời nó giải phóng bớt khỏi nông nghiệp sức lao động của các hộ nông dân và khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ từ sản phẩm nông nghiệp. Hai là, Lao động chủ yếu bằng thủ công và đại bộ phận nguyên vật liệu thường là tại chỗ Phần đông lao động trong các LN là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của ngƣời thợ, các nghệ nhân. Công cụ sản xuất chủ yếu là thô sơ do chính ngƣời thợ thủ công chế tạo ra phù hợp với yêu cầu làm ra sản phẩm. Hầu hết các LNTT đƣợc hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phƣơng.
Cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nƣớc ngoài nhƣ một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm,. song không nhiều. Ba là, Đặc trưng sản phẩm LN gắn liền địa phương Mỗi sản phẩm LN gắn với một LN cụ thể, do đó mang đậm nét độc đáo 9 của địa phƣơng. Mỗi một sản phẩm làm ra không chỉ chứa đựng công sức, sự tài hoa của ngƣời nghệ nhân mà còn mang những nét bản sắc đặc trƣng không thể thay thế của địa phƣơng.
Sản phẩm LN thƣờng có tính riêng biệt, mang đặc thù, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phƣơng đƣợc nhiều nơi biết đến. Bốn là, hình thức tổ chức SXKD trong các LN chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình và thị trường tiêu thụ mang tính địa phương tại chỗ Hình thức tổ chức sản xuất ở các LN chủ yếu là hộ gia đình có quan hệ huyết thống gắn với các phƣờng nghề nhƣ: phƣờng gốm, phƣờng vải, phƣờng mộc, phƣờng đúc đồng. Trong giai đoạn hiện nay, hình thức tổ chức SXKD có sự thay đổi, xuất hiện các hình thức mới nhƣ: doanh nghiệp tƣ nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hình thức hợp tác và HTX,…Về thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm của các LN hầu hết mang tính địa phƣơng, tại chỗ và nhỏ hẹp xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phƣơng. Ở mỗi một LN hoặc một cụm LN đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán.
Phân loại và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Phân loại các làng nghề Dựa vào khái niệm và đặc điểm LN, có thể phân các LN thành nhiều loại, tùy theo từng tiêu chí cụ thể: Thứ nhất, theo lịch sử hình thành và phát triển của các LN. Có hai loại: LNTT và LN mới. Thứ hai, theo ngành nghề SXKD: LN tiểu thủ công nghiệp; LN cơ khí và chế tác; LN xây dựng; LN dịch vụ… Thứ ba, theo tính chất hoạt động SXKD của LN: LN vừa SXNN vừa kinh doanh các nghề phi nông nghiệp; LN thủ công chuyên nghiệp; LN sản xuất hàng xuất khẩu.
Thứ tư, Theo đặc điểm sản phẩm LN: LN chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; LN chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời 10 sống; LN chuyên sản xuất các mặt hàng cho nhu cầu thông thƣờng; LN chuyên chế biến lƣơng thực, thực phẩm. Thứ năm, theo số lượng nghề: Làng một nghề: làng ngoài nghề nông ra chỉ có một nghề thủ công duy nhất; làng nhiều nghề: Làng ngoài nghề nông ra còn có một số hoặc nhiều nghề khác. Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội Tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, khai thác vốn kỹ thuật của người nông dân và cải thiện đời sống cho lao động nông thôn Trong lúc nhàn rỗi, ngƣời nông dân có thể tham gia vào sản xuất các sản phẩm truyền thống. Không những sức lao động sẽ đƣợc sử dụng triệt để mà việc sản xuất còn tăng thu nhập cho các hộ gia đình.
Cả nƣớc hiện có 5.411 LN và làng có nghề, trong đó có 1.864 LN, LN truyền thống và 115 nghề truyền thống đã đƣợc công nhận. Số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn tăng lên với tốc độ bình quân 8,8% - 9,8%/năm. Tốc độ tăng trƣởng giá trị sản xuất bình quân của LN khoảng 15%/năm. Riêng ngành thủ công mỹ nghệ đã tạo ra mặt hàng chủ lực của LN, thu hút khoảng 1,5 triệu lao động, mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,7 tỷ USD mỗi năm [20].
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và lao động nông thôn ngày càng hợp lý hơn Các vùng nông thôn chủ yếu là cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chiếm hơn một nửa. Nếu LN phát triển sẽ trở thành trung tâm kinh tế cho địa phƣơng, tận dụng thời gian nông nhàn để mang lại thu nhập ổn định. Từ đó, tỷ lệ ngƣời di cƣ lên các thành phố lớn để tiềm việc sẽ giảm, đảm bảo đƣợc vấn đề “ly nông bất ly hƣơng”. Phát triển LN chính là con đƣờng chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế NN, NT theo hƣớng chuyển từ lao động nông nghiệp năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động ngành nghề có năng suất và chất lƣợng cao với thu nhập cao.
11 Tạo điều kiện phát huy tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, góp phần phát triển SXHH ở nông thôn Nhiều địa phƣơng hiện nay đã phát huy tiềm năng, lợi thế LN nên tác động to lớn vào việc thúc đẩy quá trình SXHH ở nông thôn. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xuất khẩu, tạo ra lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hôi; góp phần quảng bá về văn hóa của Việt Nam.