Luận văn: Quản lý nhà nước đối với làng nghề trên địa bàn Hà Nội - Nguyễn Thị Hạnh

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với làng nghề Hà Nội. Nghiên cứu giải pháp, thực trạng quản lý, phát triển bền vững làng nghề truyền thống.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2017

106
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò quản lý nhà nước với làng nghề Hà Nội

Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn hiến, là nơi hội tụ của 47/52 nghề thủ công truyền thống của cả nước. Với 1.350 làng nghề và làng có nghề, khu vực này không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc. Tuy nhiên, để các làng nghề phát triển đúng hướng, hiệu quả và bền vững, công tác quản lý nhà nước đối với làng nghề Hà Nội đóng một vai trò vô cùng thiết yếu. Quản lý nhà nước không chỉ là việc ban hành các văn bản pháp quy mà còn là quá trình định hướng, hỗ trợ và giám sát toàn diện. Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN, “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư… có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Dựa trên định nghĩa này, vai trò của nhà nước được thể hiện qua việc tạo ra một hành lang pháp lý thuận lợi, một môi trường kinh doanh minh bạch và các chính sách hỗ trợ thiết thực. Mục tiêu chính là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, và quan trọng hơn cả là bảo tồn làng nghề truyền thống trước những thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự can thiệp và điều tiết từ các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là UBND thành phố Hà Nội, giúp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, giá trị văn hóa và trách nhiệm bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững làng nghề.

1.1. Làng nghề Hà Nội Di sản văn hóa và tiềm năng kinh tế

Hà Nội là nơi tập trung số lượng làng nghề lớn nhất cả nước, chiếm đến 90% tổng số nghề truyền thống. Các làng nghề như gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh không chỉ sản xuất ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, mà còn là những di sản văn hóa sống động. Các sản phẩm này kết tinh sự sáng tạo, kỹ năng điêu luyện và bản sắc văn hóa của người Thăng Long - Hà Nội qua nhiều thế hệ. Sự tồn tại của làng nghề góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm tại chỗ, hạn chế di dân tự do ra thành thị và nâng cao đời sống người dân nông thôn. Do đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị này là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

1.2. Tầm quan trọng của chính sách phát triển làng nghề

Một chính sách phát triển làng nghề rõ ràng và hiệu quả là kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Các chính sách này bao gồm quy hoạch không gian sản xuất, hỗ trợ vốn, đào tạo nguồn nhân lực cho làng nghề, xúc tiến thương mại và ứng dụng khoa học công nghệ. Nếu không có sự định hướng từ nhà nước, các làng nghề dễ phát triển một cách tự phát, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, sản xuất manh mún, lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường. Chính sách của nhà nước giúp các làng nghề tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi, đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời xây dựng thương hiệu để vươn ra thị trường quốc tế. Đây là công cụ quan trọng nhất để nhà nước thực hiện chức năng quản lý và kiến tạo phát triển.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước làng nghề Hà Nội

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, thực trạng quản lý làng nghề trên địa bàn Hà Nội vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và thách thức lớn. Quá trình phát triển của nhiều làng nghề vẫn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh (2017), một trong những vấn đề nhức nhối nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề ngày càng nghiêm trọng. Nước thải, khí thải và chất thải rắn từ hoạt động sản xuất chưa qua xử lý được xả thẳng ra môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và làm suy thoái hệ sinh thái. Bên cạnh đó, các làng nghề đang đối mặt với sự thiếu hụt nguồn nhân lực cho làng nghề, đặc biệt là đội ngũ nghệ nhân kế cận và lao động có tay nghề cao. Công nghệ sản xuất ở nhiều nơi còn lạc hậu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp, và công tác xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại sản phẩm làng nghề còn yếu. Hệ thống pháp luật về làng nghề dù đã được ban hành nhưng việc tổ chức thực thi ở cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, thiếu sự giám sát chặt chẽ. Những tồn tại này đòi hỏi các giải pháp quản lý nhà nước cần phải được triển khai một cách quyết liệt và đồng bộ hơn.

2.1. Thách thức từ ô nhiễm môi trường làng nghề nghiêm trọng

Tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề tái chế kim loại, chế biến nông sản, dệt nhuộm... đã đến mức báo động. Báo cáo Môi trường quốc gia cho thấy, nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí và nguồn nước tại nhiều làng nghề vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần. Nguyên nhân chính là do sản xuất xen kẽ trong khu dân cư, thiếu mặt bằng tập trung và công nghệ xử lý chất thải còn thô sơ, lạc hậu. Hậu quả là tỷ lệ người dân mắc các bệnh về đường hô hấp, da liễu, thậm chí ung thư ngày càng gia tăng. Vấn đề này không chỉ làm suy giảm chất lượng cuộc sống mà còn đe dọa đến sự phát triển bền vững làng nghề trong dài hạn.

2.2. Hạn chế trong quy hoạch làng nghề Hà Nội và hạ tầng

Công tác quy hoạch làng nghề Hà Nội chưa thực sự đi trước một bước. Nhiều quy hoạch được lập ra nhưng chậm triển khai hoặc thiếu tính khả thi, không theo kịp tốc độ phát triển thực tế. Hầu hết các làng nghề đều thiếu mặt bằng sản xuất, phải tận dụng không gian sinh hoạt chung, gây mất an toàn và ô nhiễm. Hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc vận chuyển nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Việc thiếu các cụm công nghiệp làng nghề tập trung khiến việc quản lý và xử lý môi trường trở nên vô cùng phức tạp.

III. Phương pháp quy hoạch và chính sách quản lý làng nghề

Để giải quyết các tồn tại, việc hoàn thiện giải pháp quản lý nhà nước về quy hoạch và chính sách là yêu cầu cấp bách. Trước hết, cần rà soát và điều chỉnh lại toàn bộ quy hoạch làng nghề Hà Nội theo hướng bền vững, gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của thành phố. Quy hoạch cần xác định rõ các khu sản xuất tập trung, tách biệt khỏi khu dân cư, đặc biệt đối với các ngành nghề có nguy cơ ô nhiễm cao. Song song đó, hệ thống pháp luật về làng nghề cần được bổ sung và hoàn thiện. Cần xây dựng các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết việc thực thi các chính sách, quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan quản lý nhà nước từ cấp thành phố đến xã, phường. Chính sách phát triển làng nghề phải mang tính đồng bộ, bao gồm các ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai để khuyến khích các hộ sản xuất di dời vào khu tập trung và đầu tư đổi mới công nghệ. Theo kinh nghiệm từ tỉnh Bắc Ninh, việc thành lập các Ban quản lý khu công nghiệp làng nghề chuyên trách giúp nâng cao hiệu quả quản lý và hỗ trợ doanh nghiệp một cách kịp thời.

3.1. Xây dựng hệ thống pháp luật về làng nghề đồng bộ hiệu quả

Một hành lang pháp lý vững chắc là nền tảng cho sự phát triển. Cần có những quy định cụ thể về tiêu chí công nhận làng nghề, tiêu chuẩn môi trường, an toàn lao động, và quyền lợi của người lao động. Các văn bản pháp luật cần được xây dựng dựa trên thực tiễn, có sự tham gia góp ý của các hiệp hội ngành nghề và cộng đồng dân cư. Việc công khai, minh bạch các quy hoạch, chính sách và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật sẽ giúp lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động của các làng nghề.

3.2. Triển khai quy hoạch làng nghề Hà Nội gắn với hạ tầng

Quy hoạch phải đi đôi với đầu tư xây dựng hạ tầng. Nhà nước cần ưu tiên ngân sách để xây dựng đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, trạm xử lý nước thải tập trung cho các cụm công nghiệp làng nghề. Mô hình “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) như kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy, việc tập trung nguồn lực đầu tư cho các sản phẩm đặc trưng của địa phương sẽ tạo ra sức bật mạnh mẽ. Hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc giải phóng mặt bằng và tạo quỹ đất sạch là yếu tố then chốt để thu hút các cơ sở sản xuất vào khu quy hoạch.

IV. Cách hỗ trợ phát triển bền vững làng nghề từ chính quyền

Bên cạnh quy hoạch và chính sách, các biện pháp hỗ trợ trực tiếp từ chính quyền đóng vai trò quyết định đến sức sống của làng nghề. Hỗ trợ của chính quyền địa phương cần tập trung vào bốn lĩnh vực chính: vốn, công nghệ, nguồn nhân lực và thị trường. Về vốn, cần đa dạng hóa các kênh tiếp cận tín dụng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục vay vốn cho các hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ. Về công nghệ, nhà nước cần hỗ trợ chuyển giao các công nghệ sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng và tổ chức các chương trình khuyến công. Đặc biệt, việc đào tạo nguồn nhân lực cho làng nghề phải được chú trọng, kết hợp giữa đào tạo nghề tại chỗ theo hình thức truyền nghề và đào tạo chính quy về thiết kế, quản trị kinh doanh. Cuối cùng, xúc tiến thương mại sản phẩm làng nghề là khâu đột phá, bao gồm hỗ trợ xây dựng thương hiệu, đăng ký sở hữu trí tuệ, tham gia các hội chợ trong và ngoài nước, và kết nối với các kênh phân phối hiện đại. Việc gắn kết phát triển du lịch làng nghề cũng là một hướng đi hiệu quả, giúp quảng bá sản phẩm và tạo thêm nguồn thu nhập bền vững cho người dân.

4.1. Giải pháp xúc tiến thương mại sản phẩm làng nghề hiệu quả

Nhà nước cần đóng vai trò cầu nối giữa làng nghề và thị trường. Các hoạt động cần được đẩy mạnh bao gồm: tổ chức các hội chợ triển lãm chuyên ngành, xây dựng cổng thông tin điện tử giới thiệu sản phẩm làng nghề, hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử lớn. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy chính sách kích cầu nội địa và hỗ trợ xuất khẩu mạnh mẽ đã giúp các xí nghiệp hương trấn phát triển vượt bậc. Hà Nội có thể học tập bằng cách xây dựng các trung tâm thiết kế sáng tạo và giới thiệu sản phẩm làng nghề ngay tại các địa điểm du lịch trọng điểm.

4.2. Chiến lược phát triển du lịch làng nghề gắn với văn hóa

Mỗi làng nghề là một điểm đến du lịch văn hóa tiềm năng. Cần xây dựng các tour du lịch trải nghiệm, cho phép du khách tham quan quy trình sản xuất, tự tay làm sản phẩm và tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của làng. Tỉnh Quảng Nam đã rất thành công với mô hình này tại Hội An (làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà). Để làm được điều này, cần đầu tư cải tạo cảnh quan, môi trường, xây dựng các cơ sở dịch vụ phụ trợ (nhà trưng bày, điểm bán hàng, khu ẩm thực) và đào tạo kỹ năng làm du lịch cho cộng đồng địa phương. Đây là cách để bảo tồn làng nghề truyền thống một cách sống động và bền vững.

V. Đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với làng nghề

Đánh giá một cách khách quan, công tác quản lý nhà nước đối với làng nghề Hà Nội trong giai đoạn vừa qua đã đạt được những kết quả nhất định. Vai trò của UBND thành phố Hà Nội và các sở, ban, ngành liên quan như Sở Công thương đã được thể hiện rõ nét qua việc ban hành nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ. Các làng nghề đã góp phần tạo ra hàng trăm nghìn việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý chưa đồng đều và vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp, và nhận thức của một bộ phận người dân làng nghề về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững còn chưa cao. Các giải pháp quản lý nhà nước thường tập trung vào phần ngọn (hỗ trợ sản xuất, xúc tiến thương mại) mà chưa giải quyết được các vấn đề gốc rễ như quy hoạch, xử lý ô nhiễm và đào tạo nhân lực bài bản. Bài học từ các địa phương khác cho thấy sự quyết liệt trong chỉ đạo và sự đồng bộ trong triển khai chính sách là yếu tố quyết định thành công.

5.1. Vai trò của UBND thành phố Hà Nội và các sở ban ngành

UBND thành phố Hà Nội giữ vai trò chủ đạo trong việc hoạch định chiến lược và phân bổ nguồn lực. Sở Công thương là cơ quan tham mưu chính về các chính sách phát triển làng nghề, công tác khuyến công và xúc tiến thương mại. Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm quản lý, giám sát vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề. Sở Du lịch phối hợp xây dựng các sản phẩm phát triển du lịch làng nghề. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan này là điều kiện tiên quyết để các chính sách đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, tránh tình trạng chồng chéo, thiếu nhất quán.

5.2. Phân tích hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý

Hạn chế lớn nhất là việc thực thi chính sách ở cấp huyện và xã còn yếu. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý cấp cơ sở còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu. Thêm vào đó, cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm (đặc biệt là vi phạm về môi trường) chưa đủ sức răn đe. Nguyên nhân một phần do áp lực phát triển kinh tế, tạo việc làm tại địa phương đôi khi lấn át các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Việc thiếu sự tham gia thực chất của cộng đồng và các hiệp hội vào quá trình hoạch định và giám sát chính sách cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả quản lý chưa như mong đợi.

VI. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước làng nghề Hà Nội

Để phát triển bền vững làng nghề, công tác quản lý nhà nước đối với làng nghề Hà Nội trong giai đoạn tới cần tập trung vào một số phương hướng trọng tâm. Thứ nhất, cần xây dựng một chiến lược phát triển làng nghề tổng thể, dài hạn, tích hợp ba trụ cột: kinh tế - xã hội - môi trường. Thứ hai, phải ưu tiên nguồn lực để giải quyết dứt điểm các vấn đề bức xúc về mặt bằng sản xuất và ô nhiễm môi trường thông qua việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung. Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hỗ trợ, chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các làng nghề chủ lực, có tiềm năng xuất khẩu và phát triển du lịch. Thứ tư, nâng cao năng lực cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước các cấp và tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành. Cuối cùng, cần phát huy vai trò chủ thể của doanh nghiệp, nghệ nhân và cộng đồng dân cư trong việc bảo tồn, phát triển làng nghề. Một giải pháp quản lý nhà nước toàn diện và đồng bộ sẽ là chìa khóa để làng nghề Hà Nội phát huy hết tiềm năng, trở thành niềm tự hào của Thủ đô.

6.1. Hướng tới phát triển bền vững làng nghề trong tương lai

Mục tiêu cuối cùng là xây dựng các làng nghề Hà Nội phát triển theo mô hình kinh tế tuần hoàn, xanh và bền vững. Điều này đòi hỏi phải áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất sạch, khuyến khích sử dụng nguyên liệu tái tạo và công nghệ thân thiện với môi trường. Các sản phẩm làng nghề không chỉ đẹp về mẫu mã, tốt về chất lượng mà còn phải mang “câu chuyện văn hóa” và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế. Tương lai của làng nghề Hà Nội nằm ở sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa phát triển kinh tế và bảo tồn làng nghề truyền thống cùng các giá trị văn hóa, môi trường.

6.2. Kiến nghị giải pháp quản lý nhà nước toàn diện đồng bộ

Để thực hiện các phương hướng trên, cần có một hệ thống giải pháp quản lý nhà nước đồng bộ. Cụ thể: (1) Hoàn thiện pháp luật về làng nghề theo hướng cụ thể, dễ áp dụng. (2) Đẩy mạnh quy hoạch làng nghề Hà Nội và đầu tư hạ tầng tương ứng. (3) Xây dựng gói chính sách hỗ trợ đặc thù cho đổi mới công nghệ và xử lý môi trường. (4) Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho làng nghề cả về tay nghề và kỹ năng quản trị. (5) Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm làng nghềphát triển du lịch làng nghề một cách chuyên nghiệp. Sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đứng đầu là UBND thành phố Hà Nội, sẽ tạo ra bước đột phá cho các làng nghề Thủ đô.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với làng nghề trên địa bàn hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn Hà Nội. Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề trên địa bàn Hà Nội.

4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Các công trình nghiên cứu chủ yếu Các làng nghề đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Từ năm 2000 trở về trƣớc, những nghiên cứu ở nƣớc ta chủ yếu là tổng kết kinh nghiệm và đánh giá thực trạng việc phát triển nghề, làng nghề ở các địa phƣơng.

Tuy nhiên, từ năm 2000 trở lại đây, các nghiên cứu về làng nghề ngày càng đi vào chiều sâu, không chỉ đơn thuần chỉ ra thực trạng, tổng kết, rút kinh nghiệm nhƣ trƣớc mà quan tâm hơn đến việc tìm ra giải pháp và đề xuất hƣớng đi để nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc để cho các làng nghề phát triển hiệu quả. Cụ thể một số nghiên cứu gần đây nhƣ sau: TS Nguyễn Vĩnh Thanh (2005) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ“Xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông Hồng hiện nay” đã nêu rõ vai trò của thƣơng hiệu đối với việc phát triển sản phẩm làng nghề truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng trong nền kinh tế thị trƣờng hội nhập hiện nay trên các khía cạnh: thƣơng hiệu và phân loại thƣơng hiệu; vai trò và chức năng của thƣơng hiệu; quan hệ thƣơng hiệu – sản phẩm trong nền kinh tế thị trƣờng và sự cần thiết phải xây dựng thƣơng hiệu cho sản phẩm làng nghề truyền thống. Đánh giá thực trạng vấn đề xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông Hồng, trong đó có vấn đề nhận thức của làng nghề về thƣơng hiệu, chiến lƣợc phân phối và quảng bá thƣơng hiệu. Từ thực trạng vấn đề xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm làng nghề, nghiên cứu đã đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thúc đẩy quá trình xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm của làng nghề ở vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian đến.

Trong nghiên cứu của ThS. Nguyễn Hữu Thông (2007) về “Nghề thủ công truyền thống Huế, thực trạng và những hệ quả cần đối mặt” đã nêu ra bối cảnh nghề truyền thống ở Việt Nam, vai trò nghề thủ công trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Huế và sự mai một các nghề thủ công truyền thống. Tác giả đã đề cập về những hệ quả mà các làng nghề thủ công truyền thống phải đối mặt và đƣa ra giải pháp để khắc phục. Mặc dù, tác giả đƣa ra những nhận định về thực trạng mai một của các làng nghề truyền thống nhƣng chƣa tìm hiểu những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những hệ quả này.

Những giải pháp chủ yếu tập trung dành cho những doanh nhân trong lĩnh vực này mà thiếu đi những giải pháp về chính sách hỗ trợ của chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc phát triển nghề thủ công truyền thống. Tác giả Bạch Thị Lan Anh với Luận án tiến sĩ “Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề truyền thống Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, đề xuất quan điểm, định hƣớng và các giải pháp đồng bộ để giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất, hiệu quả xã hội và môi trƣờng trong các làng nghề truyền thống, đảm bảo sự phát triển bền vững tại các làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Công trình “Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Việt Nam” (2010), Đề tài cấp bộ do Ths Đinh Xuân Nghiêm chủ nhiệm đã tập trung phân tích sâu về một số chính sách hiện hành liên quan đến việc phát triển làng nghề, đồng thời đề xuất phƣơng hƣớng hoàn thiện các chính sách nhằm phát triển bền vững làng nghề Việt Nam trong thời gian tới.

Trong báo cáo tổng kết đề tài khoa học “Nghiên cứu phát triển làng nghề tỉnh Quảng Ngãi” (2011) của Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đà Nẵng đã chỉ ra thực trạng phát triển 10 nghề và làng nghề tại 6 huyện đồng bằng, trung du và thành phố Quảng Ngãi, phân tích khả năng cạnh tranh, sau đó đƣa ra các mục tiêu, đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển làng nghề tỉnh Quảng Ngãi thông qua cuộc khảo sát đợt 1 về nguyên liệu, quy trình và công nghệ, quy mô sản xuất, vốn và lao động, sản phẩm và thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, môi trƣờng và cơ sở hạ tầng; khảo sát đợt 2 đối với các chủ cơ sở, doanh nghiệp sản xuấtkết hợp với việc phát phiếu hỏi ý kiến các chuyên gia (60 phiếu). Nghiên cứu của PGS.TS Phạm Xuân Hậu và ThS Trịnh Văn Anh (2012) về “Giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở Việt Nam phục vụ du lịch” đã nêu ra động lực và tiềm năng phát triển làng nghề ở Việt Nam, giới thiệu về nhóm làng nghề truyền thống của các địa phƣơng có thể khai thác phục vụ du lịch, từ đó đƣa ra các quan điểm và giải pháp phát triển làng nghề truyền thống phục vụ du lịch của Việt Nam. Nghiên cứu của Ths Ngô Thành Trung (2014) về “Quản lý nhà nước đối với các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” đã nêu ra một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề, thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh bao gồm thực trang hoạch định và thực thi đƣờng lối, mục tiêu phát triển làng nghề, công tác quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh, việc ban hành và triển khai các quy định pháp lý làm cơ sở cho quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề, các chính sách hỗ trợ và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các làng nghề trên địa bàn tỉnh. Từ đó, tác giả đã đƣa ra phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề của tỉnh giai đoạn 2015 – 2020.

Luận văn của Ths Nguyễn Thị Kim Ngân (2014) về “Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, Hà Nội” 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất ở các phƣơng diện: xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản trong hoạt động phát triển làng nghề truyền thống; thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch, chính sách phát triển, về công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc, về công tác quản lý đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển làng nghề. Từ đó, tác giả đã nêu ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về phát triển làng nghề truyền thống huyện Thạch Thất. Kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu Tất cả những công trình nêu trên đã tiến hành nghiên cứu làng nghề, làng nghề truyền thống tập trung ở các lĩnh vực chính sau: - Một là, nghiên cứu tổng quan về tình hình hoạt động của công nghiệp nông thôn; thực trạng công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn; - Hai là, nghiên cứu về tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp và những vấn đề môi trƣờng tác động đến làng nghề; - Ba là, nghiên cứu về tình hình sản xuất kinh doanh của làng nghề, làng nghề truyền thống từ lao động, công nghệ, vốn, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm… trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chƣa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Luận văn này kế thừa những nghiên cứu kể trên, nhƣng tập trung phân tích công tác quản lý Nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn Hà Nội những năm qua, đề xuất các giải pháp cho những năm tới. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề 1. Khái niệm và đặc trưng Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính ở nông thôn bao hàm là một tập hợp cộng đồng dân cƣ trên một vùng lãnh thổ xác định, có khả năng độc lập về kinh tế.

Trong điều kiện chống ngoại xâm, thiên tai thì họ là một cộng đồng thống nhất. Họ còn là một cộng đồng văn hóa gắn liền với biểu tƣợng cây đa, giếng nƣớc, mái đình. Làng, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, là một khối ngƣời quây quần ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào của xã hội của ngƣời Việt, là một tập hợp dân cƣ chủ yếu theo quan hệ láng giềng.

Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những ngƣời dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất. Trong quá trình đô thị hóa, khái niệm làng đƣợc hiểu một cách tƣơng đối. Một số địa phƣơng hiện nay không còn đƣợc gọi là làng mà thay vào đó là những tên gọi khác nhƣ phố, khối phố. Tuy nhiên, dù tên gọi là có thay đổi nhƣng bản chất của cộng đồng dân cƣ đó vẫn gắn với nông thôn thì vẫn đƣợc xem là làng.

Các làng ở nƣớc ta đƣợc chia làm 4 loại chính: - Làng thuần nông hay còn gọi là làng nông nghiệp, là những làng nghề nông một cách thuần túy. - Làng buôn bán, là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của một số thƣơng nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp. - Làng nghề, là làng làm nghề nông nghiệp nhƣng có thêm một số nghề thủ công. - Làng chài, là làng của các cƣ dân làm nghề chài lƣới, đánh cá sống ở ven sông, ven biển.

9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự xuất hiện của các nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghề phụ, chủ yếu đƣợc nông dân tiến hành trong lúc nông nhàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ