Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về kinh tế nông nghiệp 1. Khái niệm “nông nghiệp” Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Khái niệm “nông nghiệp” được nhiều nhà nghiên cứu thảo luận và đưa ra các quan điểm của mình; hầu hết các quan điểm, tư tưởng đó có sự tương đồng với nhau, có thể kể tới như: - Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đưa ra khái niệm “nông nghiệp” như sau: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi.”[18] - Theo Giáo trình “Kinh tế nông nghiệp” – Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, do PGS.
Vũ Đình Thắng chủ biên quan niệm rằng: “Nông nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ, còn hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản. Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu xã hội, cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị, làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ. Hơn nữa, nông nghiệp khi tham gia vào xuất khẩu còn đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế quốc dân; đồng thời có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường tự nhiên, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc gia.”[14] - Theo Giáo trình “Kỹ thuật Nông nghiệp” – Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa.
7 Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được.
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.”[15] - Trong tác phẩm “Kinh tế Nông nghiệp: lý luận và thực tiễn”, tác giả Đinh Phi Hổ quan niệm: “Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản.”[19] Tóm lại, ta có thể hiểu một cách đơn giản về thuật ngữ “nông nghiệp” như sau: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống con người, cho ngành công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu. Hiểu theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi; còn theo nghĩa rộng thì bao gồm cả ngành lâm nghiệp và thuỷ sản.
Khái niệm “kinh tế nông nghiệp” - Theo Từ điển Bách khoa nông nghiệp Việt Nam: “Kinh tế nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là ngành sản xuất vật chất chủ yếu. Nông nghiệp sản xuất ra lương thực, thực phẩm và nguyên liệu chủ yếu cho một số ngành công nghiệp chế biến. KTNN gồm 2 nhóm ngành chính: Trồng trọt và chăn nuôi. Nhóm ngành trồng trọt gồm: Sản xuất cây lương thực, rau quả, cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đậu tương, đay, thuốc lá.), cây công nghiệp lâu năm (chè, cà phê, cao su, điều,.), cây cảnh và hoa cảnh.
Nhóm ngành chăn nuôi có: Nuôi lợn, gà, vịt, trâu, bò, v.”[29] 8 - Theo giáo trình “Kỹ thuật Nông nghiệp” – Đại học Kinh tế Quốc dân: “Kinh tế nông nghiệp là môn khoa học xã hội. Nó nghiên cứu khía cạnh kinh tế xã hội của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nếu như kinh tế chính trị nghiên cứu các quan hệ kinh tế giữa người và người trong quá trình sản xuất của xã hội; thì kinh tế nông nghiệp chỉ nghiên cứu các mối quan hệ đó trong phạm vi nông nghiệp, đồng thời kinh tế nông nghiệp cũng nghiên cứu những nét đặc thù của hoạt động sản xuất nông nghiệp do sự tác động của những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội mang lại. Kinh tế nông nghiệp nghiên cứu các quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại của lực lượng sản xuất và sự phát triển của kỹ thuật, nhất là kỹ thuật nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp là tiền đề vật chất của sự đổi mới các quan hệ kinh tế, sự hoàn thiện của hệ sản xuất nhằm nâng cao không ngừng năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, biến đổi tận gốc bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn theo định hướng XHCN.”[15] Kinh tế nông nghiệp là một lĩnh vực kinh tế ứng dụng liên quan đến việc áp dụng lý thuyết kinh tế trong việc tối ưu hoá sản xuất và phân phối thực phẩm. Kinh tế nông nghiệp tập trung vào tối đa hoá năng suất cây trồng, vật nuôi và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp. Từ những quan điểm trên, ta có thể đưa ra khái niệm “kinh tế nông nghiệp” ngắn gọn như sau: “Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế cơ bản trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nông nghiệp cũng là môn khoa học xã hội, nghiên cứu các quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại của lực lượng sản xuất và sự phát triển của kỹ thuật, nhất là kỹ thuật nông nghiệp.
Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp 1. Đặc điểm cơ bản của kinh tế nông nghiệp - Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của kinh tế nông nghiệp: Khác với ngành kinh tế công nghiệp và dịch vụ, kinh tế nông nghiệp sử dụng tư liệu sản xuất chủ yếu là tài nguyên đất kết hợp với tài nguyên nước phục vụ quá trình tưới tiêu và một số tài nguyên khác. 9 Tính chất đất quyết định cơ cấu cây trồng tại vùng miền đó. Những vùng đất có tài nguyên đất màu mỡ, địa thế gần sông được bồi đắp phù sa hàng năm thì thuận lợi cho trồng các loại cây lương thực như lúa nước, ngô, khoai,.
Trái lại ở những vùng có tính chất đất khô cứng, ít màu mỡ hơn, gần biển thì người dân có thể trồng các loại cây ăn quả hàng năm và lâu năm, cây công nghiệp, … Đất đai là do thiên nhiên ban tặng nhưng trong quá trình sử dụng con người có thể khai phá để mở rộng diện tích trồng trọt, chăn nuôi; cũng có thể cải tạo lại để cải thiện chất lượng đất sau mỗi vụ mùa, phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế của con người. Tuy nhiên, tài nguyên đất không có giá trị khai thác vĩnh viễn. Nói ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong phát triển kinh tế nông nghiệp vì trong thời kỳ phát triển kinh tế hội nhập, hiện đại hóa trong quá trình sản xuất thì con người có thể phát triển kinh tế nông nghiệp mà không cần đến tài nguyên đất, thay vào đó là sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ thủy canh và chiếu sáng đèn LED, được áp dụng để trồng rau sạch trong nhà, đem lại hiệu quả cao hơn hàng trăm lần trên cùng một đơn vị diện tích ngoài trời, tạo một xu hướng được nhiều người dân thành phố quan tâm và áp dụng. - Kinh tế nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, nước.
Các yếu tố này đều có tác động, ảnh hưởng nhất định đến kinh tế nông nghiệp, quy định cơ bản cơ cấu cũng như năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi của các vùng lãnh thổ trong cả nước. Do hoạt động sản xuất nông nghiệp được tiến hành ở ngoài trời, trên nhiều loại địa hình khác nhau như cao nguyên, đồi núi, trung du, đồng bằng nên kinh tế nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các điều kiện tự nhiên là điều tất yếu. - Kinh tế nông nghiệp có tính vùng và tính thời vụ cao: Nói kinh tế nông nghiệp có tính vùng là do vị trí địa lý, địa hình – nơi mà hoạt động nông nghiệp được thực hiện quy định. Chia theo vị trí địa lý, địa hình của mỗi vùng có thể kể tới các loại vùng như sau: vùng núi cao, vùng cao nguyên, 10 trung du, vùng đồng bằng, vùng ven biển,… Mỗi một vùng sản xuất nông nghiệp sẽ có những đặc trưng riêng trong hoạt động sản xuất và tạo nên tính đa dạng về chủng loại cũng như năng suất, chất lượng của giống cây trồng, vật nuôi.
Ngoài ra, tính vùng của kinh tế nông nghiệp còn do tính chất của thời tiết, khí hậu của vùng đó quy định. Có thể chia thành vùng có đới khí hậu như cực và cận cực, ôn đới, cận nhiệt, nhiệt đới và xích đạo. Tương đương với các vùng là các thảm thực vật khác nhau, tạo sự đa dạng trong nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp có tính thời vụ cao do hoạt động sản xuất nông nghiệp có tính chất hoàn toàn khác biệt so với các ngành kinh tế khác.
Nếu kinh tế công nghiệp vận hành bằng việc thực hiện hoạt động tiếp nhận nguyên vật liệu vào quy trình sản xuất sau đó đem hàng hóa đi lưu thông trên thị trường, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và luôn phải đổi mới, sáng tạo chất lượng sản phẩm thì kinh tế nông nghiệp lại có tính thời vụ. Tính thời vụ trong nông nghiệp là do sự thay đổi của điều kiện thời tiết, khí hậu trong một năm, một năm có 4 mùa xuân - hạ - thu - đông, mỗi cây trồng lại chỉ thích hợp để phát triển trong một mùa nhất định dẫn đến những vụ mùa khác nhau.