phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về khu công nghiệp 1.
Khái niệm khu công nghiệp Trên thế giới loại hình KCN đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nƣớc công nghiệp phát triển nhƣ Anh, Mỹ cho đến những nƣớc có nền kinh tế công nghiệp mới nhƣ Hàn Quốc, Singapore,…và hiện nay vẫn đang đƣợc các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa. Hiện nay, chƣa có một định nghĩa chính thức về KCN đƣợc thừa nhận chung. Tùy điều kiện từng nƣớc mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhƣng chúng đều mang tính chất và đặc trƣng của KCN. Các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới đã đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN.
Ở Philipine, theo luật về các KKT đặc biệt 1995, KCN đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “KCN là một khu đất đƣợc chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một qui hoạch toàn diện dƣới sự quản lý liên tục thống nhất và với các qui định đối với cơ sở hạ tầng cơ bản và các tiện ích khác, có hay không có các nhà xƣởng tiêu chuẩn và các tiện ích công cộng đƣợc xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN ”[10]. Trong khi đó ở Inđônêxia, theo sắc lệnh của Tổng thống Cộng hòa Inđônêxia số 98/1993 thì KCN đƣợc định nghĩa: “là khu vực tập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và các phƣơng tiện hỗ trợ khác do công ty KCN cung cấp và quản lý[10]”. Ở đây, “Công ty KCN là các công ty có tƣ cách pháp nhân đƣợc thành lập theo luật của Inđônêxia và ở trênlãnh thổInđônêxia,với chức năng quản lý nhà nƣớc các KCN 8 ”[10]. Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO), trong tài liệu KCX tại các nƣớc đang phát triển (Export processing Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 có nêu rằng “ KCN là khu vực tƣơng đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tƣ vào các ngành công nghiệp hƣớng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tƣ và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nƣớc chủ nhà.
Trong đó đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế”. Tóm lại, KCN là đối tƣợng đặc thù của quản lý nhà nƣớc về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập. Mặc dù có những quan điểm khác nhau về KCN, nhƣng chúng có những đặc trƣng cơ bản sau: Thứ nhất, KCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời của một quốc gia, thƣờng là những khu vực địa lý riêng biệt thích hợp, có hàng rào giới hạn với các vùng, lãnh thổ còn lại của nƣớc sở tại và đƣợc chính phủ nƣớc đó cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển. Thứ hai, KCN là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và mục tiêu xác định giữa chủ đầu tƣ và nƣớc chủ nhà.
KCN là nơi có môi trƣờng kinh doanh đặc biệt phù hợp, đƣợc hƣởng những quy chế tự do, các chính sách ƣu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở nội địa. Chúng là nơi có vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, thƣơng mại dịch vụ, đầu tƣ trên cơ sở các chính sách ƣu đãi về cơ sở hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính - tiền tệ, môi trƣờng đầu tƣ. Thứ ba, KCN là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ƣu tiên chính sách 9 hƣớng ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, phát triển các loại hình kinh doanh, sản xuất, phục vụ xuất khẩu. Đây là mô hình thu nhỏ về chính sách KT - XH mở cửa của một đất nƣớc.
Đặc điểm, tầm quan trọng của khu công nghiệp 1. Đặc điểm Khu công nghiệp Từ việc tổng kết, đƣa ra khái niệm chung nhất về KCN, có thể rút ra một số các đặc điểm cơ bản của KCN nhƣ sau: - KCN là một phần lãnh thổ của nƣớc sở tại, đƣợc xây dựng với một kết cấu hạ tầng tƣơng đối hiện đại. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng cần khoản kinh phí lớn, thời gian thu hồi vốn lại khá lâu, do đó cần phải có sự tham gia của Nhà nƣớc đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thành phần kinh tế khác. - KCN là một khu vực tập trung các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghiệp trong một phạm vi nhất định.
Các doanh nghiệp trong KCN về cơ bản vẫn phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật của nƣớc sở tại. Bên cạnh đó, còn đƣợc hƣởng một số quy chế đặc thù của Nhà nƣớc; các quy chế này thể hiện sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. - KCN thƣờng đƣợc xây ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi nhƣ gần đƣờng giao thông, thuận tiện giao lƣu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng biển, cảng sông, sân bay…Ngoài ra các KCN còn đòi hỏi phải có diện tích khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tƣơng đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp, gần nguồn nƣớc, có cơ sở hạ tầng thích hợp. - KCN là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp.
Các nguồn lực của nƣớc sở tại, của các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát triển cơ cấu, 10 những ngành nghề mà nƣớc sở tại ƣu tiên, cho phép đầu tƣ. Bên cạnh đó thủ tục hành chính đơn giản, có các ƣu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội tốt tạo thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh hàng hoá cho các khu vực khác. - Lực lƣợng lao động làm việc trong KCN tƣơng đối lớn nên kèm theo đó nhiều vấn đề xã hội phát sinh, ví dụ nhƣ vấn đề nhà ở, vấn đề giáo dục, y tế. Tầm quan trọng của Khu công nghiệp KCN có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Vai trò của KCN đƣợc thể hiện trên những điểm nhƣ sau: Thứ nhất,KCN là nơithu hút nguồn vốn đầu tƣ lớn trong và ngoài nƣớc để phát triển nền kinh tế KCN với đặc điểm là nơi đƣợc đầu tƣ cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tƣ cùng đầu tƣ trên một vùng không gian lãnh thổ do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nƣớc. Với quy chế quản lý thống nhất và các chính sách ƣu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài; hơn nữa việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lƣợc kinh doanh của các tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ƣu đãi thuế quan từ phía nƣớc chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trƣờng mới ở các nƣớc đang phát triển. Do vậy, KCN giúp cho việc tăng cƣờng huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển kinh tế xã hội và là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc và là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài. Vốn đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài là một trong những nhân tố quan trọng giúp quốc gia thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nƣớc, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Mặt khác sự hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài đã tác động tích cực, thúc đẩy sự lƣu thông và hoạt động của 11 đồng vốn trong nƣớc. Thứ hai, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu và giảm chi ngoại tệ và góp phần tăng nguồn thu ngân sách Sự phát triển các KCN có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa hƣớng về xuất khẩu. Hàng hóa sản xuất ra từ các KCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số lƣợng hàng hóa xuất khẩu của địa phƣơng và của cả nƣớc. Khi các KCN mới bắt đầu đi vào hoạt động, lúc này nguồn thu ngoại tệ của các KCN chƣa đảm bảo vì các doanh nghiệp phải dùng số ngoại tệ thu đƣợc để nhập khẩu công nghệ, dây chuyền, máy móc thiết bị … nhƣng cái lợi thu đƣợc là nhập khẩu nhƣng không mất ngoại tệ.
Khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất ổn định, có hiệu quả thì lúc đó nguồn thu ngoại tệ bắt đầu tăng lên nhờ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN. Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp trong nƣớc cho các doanh nghiệp chế xuất hoạt động trong KCN và việc một số doanh nghiệp chế xuất tổ chức gia công một số chi tiết, phụ tùng, một số công đoạn tại các doanh nghiệp trong nƣớc góp phần vào quá trình nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm của các doanh nghiệp. Ngoài ra, các KCN cũng đóng góp đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phƣơng và đóng góp chung cho nguồn thu của quốc gia.