phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn có kết cấu thành 3 chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN đối với HTX ở cấp huyện. Thực trạng QLNN đối với HTX ở huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định.
Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với HTX ở huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ Ở CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về hợp tác xã 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp tác xã 1.
Khái niệm hợp tác xã Khái niệm HTX đƣợc trình bày rõ trong Luật HTX và khái niệm HTX thay đổi tùy thuộc sự phát triển KT - XH của đất nƣớc. Cụ thể: Tại Điều 1, L u ậ t H T X n ă m 2 0 0 3 quy định: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển KT - XH của đất nước. HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật.”[15] Tại Khoản 1, Điều 3 Luật HTX năm 2012 quy định: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX. Liên hiệp HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 HTX tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động SXKD nhằm đáp ứng nhu cầu chung của HTX thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp HTX.
9 Khi HTX, liên hiệp HTX phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của HTX, liên hiệp HTX; doanh nghiệp của HTX, liên hiệp HTX hoạt động theo Luật doanh nghiệp.” [16] Nhƣ vậy, có thể hiểu HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động SXKD, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX. HTX là một mô hình tổ chức kinh tế phổ biến từ lâu và đƣợc khuyến khích phát triển ở Việt Nam, tồn tại song hành cùng với các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam. Việc thành lập HTX cũng giống với việc thành lập công ty, đều phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Đặc điểm của hợp tác xã Một là, HTX là một tổ chức kinh tế có tính tập thể, có các thành viên là cá nhân hoặc tổ chức.
HTX đƣợc xác định là một tổ chức kinh tế, đƣợc thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể theo quy định của Luật HTX và các văn bản hƣớng dẫn Luật HTX. Việc khẳng định HTX là một tổ chức kinh tế đƣợc quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Luật HTX năm 2012. HTX là tổ chức kinh tế mang tính tập thể. Đặc điểm này xuất phát từ đặc trƣng HTX là tổ chức đƣợc lập nên dƣới sự tham gia của tập thể nhiều xã viên cùng tự nguyện hợp tác, tƣơng trợ cùng nhau giải quyết các yêu cầu chung, mục đích chung trong việc SXKD và phát triển kinh tế.
HTX cũng đƣợc xác định là sự thể hiện của hình thức KTTT, thể hiện sở hữu tập thể. Hai là, HTX là một tổ chức kinh tế vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội sâu sắc. HTX là tổ chức kinh tế mang tính xã hội sâu sắc. Tính xã hội của HTX thể hiện trong toàn bộ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX.
HTX mang tính cộng đồng cao vì bên cạnh việc cùng sản xuất và cùng kinh doanh, tạo ra thu nhập thì HTX còn tạo điều kiện cho tất cả các thành viên của mình cùng 1 lao động sản xuất, đóng góp trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hƣởng lợi từ việc lao động của mình. HTX không chỉ tạo ra việc làm cho thành viên, giảm đƣợc tình hình thất nghiệp cho xã hội mà còn tạo điều kiện phát triển cho những cá nhân nhỏ lẻ, không đủ khả năng tự kinh doanh độc lập. Ba là, HTX là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân HTX là một tổ chức có tƣ cách pháp nhân theo quy định tại Điều 74, Bộ luật Dân sự năm 2015 và đƣợc thành lập một cách hợp pháp theo quy định của Luật HTX. Để thành lập HTX thì ít nhất phải có ít nhất 07 thành viên, có thể là cá nhân, hộ gia đình, và cũng có thể là pháp nhân.
Trong đó, nếu là cá nhân thì phải từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; nếu là hộ gia đình thì phải có ngƣời đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật. HTX có điều lệ, có tên, biểu tƣợng riêng của hợp tác xã, và có đăng ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trƣớc khi chính thức đi vào hoạt động. HTX cũng có cơ cấu tổ chức nhƣ cơ cấu tổ chức của một pháp nhân, cũng có cơ quan điều hành, có điều lệ theo quy định của pháp luật. Cơ cấu tổ chức của HTX, bao gồm đại hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên.
Trong đó, đại hội thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của HTX. Còn hội đồng quản trị HTX là cơ quan quản lý HTX do hội nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu. Giám đốc (tổng giám đốc) là ngƣời điều hành hoạt động của HTX. Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên là cơ quan/ngƣời do đại hội thành viên bầu và kiểm soát, giám sát hoạt động của HTX.
Bốn là, HTX được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm Quyền tự chủ của HTX đƣợc thể hiện: tự thực hiện mục tiêu hoạt động của HTX; quyết định tổ chức quản lý và hoạt động của HTX; kết nạp mới, chấm dứt tƣ cách thành viên HTX; tăng giảm vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của HTX… Nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm cuả HTX đƣợc thể hiện qua việc thực hiện các nghĩa vụ nhất định nhƣ: Hoạt động đúng ngành nghề đã đăng ký; 1 thực hiện quy định của pháp luật về tài chính, thuế, kế toán, kiểm toán, thống kê; quản lý, sử dụng vốn, tài sản và các quỹ khác của HTX theo quy định của pháp luật; quản lý, sử dụng đất và tài nguyên khác đƣợc Nhà nƣớc giao hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật… Tài sản của HTX không chỉ là tiền (vốn góp, vốn huy động, vốn hình thành trong quá trình hoạt động, các khoản trợ cấp, lợi nhuận), mà còn là các phần vật chất khác nhƣ tài sản hiện hữu cố định, quyền sử dụng đất. Những tài sản của HTX đƣợc quản lý và sử dụng theo nguyên tắc, quy định trong điều lệ, trong quy chế quản lý tài chính, và hoàn toàn độc lập với tài sản riêng của các xã viên (thành viên HTX). Mọi giao dịch liên quan đến hoạt động của HTX đều do HTX chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình. Vai trò và phân loại hợp tác xã 1.
Vai trò hợp tác xã đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với quá trình đổi mới chung của cả nƣớc, việc chuyển đổi, phát triển HTX và các hình thức kinh tế hợp tác đã có những thành công nhất định. Thứ nhất, Đóng góp thúc đẩy tăng trưởng KT - XH của cả nước và của các vùng kinh tế Trong những năm qua khu vực HTX đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trƣởng GDP chung của nền kinh tế. Khu vực KTTT, HTX đóng góp trực tiếp khoảng 4,8% vào GDP của cả nƣớc; đóng góp gián tiếp trên 30% GDP cả nƣớc thông qua giá trị gia tăng của kinh tế hộ thành viên.
Quan trọng hơn, hoạt động của các HTX đã thực sự có tác dụng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tạo ra mối liên kết, hợp tác giữa các hộ xã viên trong HTX và giữa HTX với các doanh nghiệp, góp phần gia tăng sản lƣợng hàng hóa nông, lâm, thủy sản, lƣơng thực. Các HTX thông qua tổ chức và hoạt động của mình đã huy động có hiệu quả các nguồn lực của xã hội để mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH, HĐH, đặc biệt trong xây dựng nông thôn mới. cho thấy số HTX ở vùng Đồng bằng sông Hồng là 4.511 HTX, Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung là 3.903 HTX, Trung du 1 và miền núi phía Bắc là 2.540 HTX, Đồng bằng sông Cửu Long là 1.651 HTX, Đông Nam Bộ là 1057 HTX và thấp nhất là khu vực Tây Nguyên là 726 HTX. So sánh giữa các vùng kinh tế thì số lƣợng Đồng bằng sông Hồng nhiều nhất, sau đó là Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, tiếp theo Trung du và miền núi phía Bắc, tiếp theo Đồng bằng sông Cửu Long, tiếp theo Đông Nam Bộ và cuối cùng Tây Nguyên.
4511 3903 2540 1651 1057 726 Đồng bằng sông Trung du và miền Bắc trung bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông và Hồngnúi phía Bắc Duyên hải miền Cửu Long Trung Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Biểu đồ 1. Số hợp tác xã đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh theo kinh tế vùng Vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm tỷ trọng lớn về số lƣợng, lao động, nguồn vốn của các HTX, trong khi vùng Đông Nam Bộ có tỷ trọng lớn về doanh thu và lợi nhuận của các HTX. Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là 2 địa phƣơng tập trung phần lớn các nguồn lực về HTX của cả nƣớc.