Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Vấn đề QLNN đối với giáo dục đại học nói chung và đội ngũ giảng viên các trường đại học nói riêng đã thu hút không ít sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học, đặc biệt các nhà nghiên cứu, các viện, các trường đại học cả trong và ngoài nước. Trong đó, đã có rất nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách, báo, tạp chí,… dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và năng lực quản lý của cơ quan QLNN, góp phần nâng cao chất lượng GDĐH.1 Nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước đối với giảng viên trường đại học công lập Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý luận về QLNN, từ giáo trình, sách chuyên khảo, đến các bài viết trên tạp chí,.Trong số đó, giáo trình Hành chính công do TS. Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên, xuất bản năm 2003 với 16 chương đã bao gồm những vấn đề cơ bản nhất của khoa học hành chính công như: chức năng hành chính, thể chế hành chính, tổ chức hành chính Nhà nước, quyết định hành chính, công vụ, công chức, QLNN trên các lĩnh vực,…[45].
Có thể nói, công trình có tính “giáo khoa” kể trên đã giúp nghiên cứu sinh có những hiểu biết cơ bản nhất về các yếu tố cấu thành nền hành chính Nhà nước; phân biệt QLNN với các loại hình quản lý khác trong xã hội. Đây là nghiên cứu nền tảng làm cơ sở để nghiên cứu sinh đi sâu tìm hiểu QLNN đối với từng lĩnh vực, nội dung cụ thể. 8 Qua việc nghiên cứu sách chuyên khảo Phân cấp quản lý nhà nước ở Việt Nam: thực trạng và triển vọng của GS.TS Phạm Hồng Thái và Phân cấp quản lý nhà nước: lý luận và thực tiễn của PGS.TS Võ Kim Sơn, tác giả luận án hiểu rõ hơn vấn đề lý luận về phân cấp QLNN trong hệ thống hành chính Nhà nước. Các mô hình phân cấp, nguyên tắc, yêu cầu, nội dung phân cấp và thực trạng phân công, phân cấp trong QLNN ở nước ta trong những năm qua [78].
Bên cạnh đó, qua luận án Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học của Nguyễn Thị Thu Hà, nghiên cứu sinh hiểu rõ hơn về phân cấp QLNN đối với lĩnh vực cụ thể là giáo dục đại học: khái niệm, bản chất của phân cấp QLNN đối với giáo dục đại học, đặc biệt luận án gắn kết công tác QLNN đối với giáo dục đại học trong mối quan hệ giữa quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học [41]. Đề tài NCKH của Ngô Minh Tuấn, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương năm 2013: Quản lý nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp đã tiếp cận lý luận về QLNN đối với nguồn nhân lực. Đề tài tiếp cận theo cách tiếp cận chức năng QLNN: bao gồm chức năng xây dựng chính sách (chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan đến phát triển nguồn nhân lực); chức năng dự báo; chức năng tổ chức, điều hành nhằm tác động, tổ chức, điều chỉnh quá trình phát triển nguồn nhân lực [92]. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng giúp tác giả nhận thức rõ hơn thế nào là QLNN đối với nguồn nhân lực từ đó xác định những nội dung của QLNN đối với giảng viên - với tư cách là nguồn nhân lực chất lượng cao trong xã hội.
Không nghiên cứu trực diện về các trường ĐHCL nhưng Đặng Thị Minh trong luận án tiến sỹ Chính sách phát triển các trường đại học tư thục ở Việt Nam đã có sự phân tích, so sánh khá chi tiết, phân biệt trường ĐHCL và trường đại học tư thục trên các nội dung: địa vị pháp lý, đầu tư tài chính và sở hữu trường, cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý tài chính và sử dụng tài sản [59]. Qua sự phân tích của tác giả, nghiên cứu sinh có thêm những hiểu biết về mô hình tổ chức của trường ĐHCL. Muốn hiểu rõ về đối tượng quản lý - giảng viên trường 9 ĐHCL, thì việc hiểu được môi trường giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên, những quy định, chính sách phát triển của Nhà nước đối với trường ĐHCL hiện có là vô cùng quan trọng. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án của các tác giả: Trần Tuấn Duy (2019), “Quản lý nhà nước đối với giảng viên các trường chính trị từ thực tiễn vùng Đông Nam Bộ”, Lê Thị Bích Liên (2018), “Quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đại học từ thực tiễn trường Đại học Hà Nội”, Lê Thị Nga (2014), “Quản lý nhà nước về phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”,… Dù tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý hay khoa học quản lý, dù phạm vi nghiên cứu trên địa bàn: thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, dù là trường đại học trực thuộc Bộ hay Đại học quốc gia,.
thì các nghiên cứu trên đều xuất phát từ lý luận về QLNN và bám sát những nội dung QLNN đối với giảng viên: xây dựng thể chế, xây dựng và thực hiện chính sách; quy hoạch; tuyển dụng; sử dụng; đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật giảng viên. Qua các nghiên cứu trên, tác giả nhận thức được những vấn đề lý luận về chủ thể, khách thể, nội dung QLNN đối với giảng viên các trường đại học. Đây là những tài liệu quan trọng giúp tác giả luận án có những nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về lý luận QLNN đối với giảng viên các trường ĐHCL ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, những vấn đề lý luận được phân tích ở một chừng mực nhất định, chưa thể hiện rõ hình thức, phương pháp QLNN đối với đối tượng đặc thù - giảng viên.
Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với giảng viên mới được xem xét trên phạm vi hẹp, cần tiếp tục được nghiên cứu sâu hơn.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với giảng viên trường đại học Có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến thực trạng giảng viên và công tác quản lý đối với giảng viên các trường đại học. Ở nhiều nghiên cứu nước ngoài, tuy không đề cập trực tiếp đến Việt Nam, nhưng những nghiên cứu về giáo dục đại học, giảng viên đại học trên thế giới là tài liệu tham khảo 10 hữu ích, giúp tác giả luận án nhận thức được bối cảnh và xu hướng phát triển của giảng viên các trường đại học hiện nay. Vai trò của giáo dục đại học trong thế kỷ 21 được ghi nhận ở tất cả các nền giáo dục trên thế giới. Các nghiên cứu nước ngoài về giáo dục đại học, trường đại học có thể kể đến là: “The role of university in Globalization” (Marcus Storch, 2008), “Global trends in university administration” (John Fielden, 2008),… Trong bài viết “From ideas to actions in higher education” tác giả David E.Bloom đến từ đại học Havard đã tập trung làm rõ ba nội dung chính: một là tầm quan trọng của GDĐH, GDĐH là một nhân tố thiết yếu có thể chứng minh được trong việc đẩy mạnh phát triển con người và tăng trưởng kinh tế; hai là nhu cầu cải cách: áp lực của toàn cầu hóa khiến nhu cầu này trở thành khẩn cấp: cần phải dành những nguồn lực thực tế cho bộ phận giáo dục đại học và cao đẳng, và cần cải cách GDĐH ở cả hai cấp độ: ở từng trường và ở cả hệ thống; ba là: thực hiện cải cách tập trung vào cải cách chương trình đào tạo và vấn đề về chảy máu chất xám [104].
Trên cơ sở phân tích 11 thách thức chiến lược trong phát triển các trường đại học, tác giả Donald E. Hanna trong báo cáo “Building a Leadership Vision: Eleven Strategic Challenges for Higher Education” đã chỉ rõ những xu hướng thay đổi trong văn hóa hàn lâm của các trường đại học trong bối cảnh của toàn cầu hóa và sự bùng nổ của khoa học và công nghệ đang diễn ra trên toàn thế giới. Trong đó, tác giả cũng chỉ rõ sự thay đổi cần có ở giảng viên đại học: từ giảng viên biên chế là những người ra quyết định học thuật chủ yếu đến giảng viên chia sẻ việc ra quyết định học thuật với các khách hàng chủ chốt và các nhân vật hữu quan; từ việc giảng viên thường làm việc theo chương trình riêng của họ và hành động độc lập với các đồng nghiệp của họ đến giảng viên thường hợp tác với nhau và thông qua đa ngành để đạt được các mục tiêu của tổ chức [109]. Đặc biệt, trong những nghiên cứu về giáo dục đại học ở Châu Á, trực tiếp về Trung Quốc, Ấn Độ,… tác giả nhận thấy phần nào những điểm chung của 11 thực trạng giảng viên đại học ở Việt Nam hiện nay, những thách thức mà Chính phủ gặp phải để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Trong bài viết, “The Asian Higher Education Century?” Philip G. Altbach đã khái quát về sự phát triển của giáo dục đại học Châu Á và những con số khiêm tốn của các trường đại học châu Á trong bảng xếp hạng top 100 trường đại học hàng đầu thế giới. Từ đó, tác giả tập trung vào nhìn nhận những trở ngại đối với sự phát triển các trường đại học ở châu lục đông dân số nhất trên toàn cầu. Những trở ngại nằm ở truyền thống lịch sử và ở những nhân tố khác, đó là: quan hệ và mạng lưới cá nhân vẫn đang ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống học thuật, từ việc tuyển sinh cho đến việc thăng tiến của các giáo sư và phân bổ ngân sách nghiên cứu; việc giảng dạy và ở mức độ nào đó, cả nghiên cứu, thường theo những phương pháp hoàn toàn truyền thống và nhấn mạnh diễn giảng, với rất ít tương tác giữa thầy và trò; hệ thống thứ bậc là trung tâm của những mối quan hệ học thuật mọi loại; nạn tham nhũng trong giới học thuật [101].
Và trong những trở ngại chủ yếu được nêu ra, tác giả tập trung phân tích trở ngại trong vấn đề giảng viên, cụ thể là thu nhập của giảng viên. Theo tác giả, ở nhiều nước Châu Á, các giáo sư được trả lương không tương xứng so với các ngành nghề khác ở địa phương và thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế. Có thể nhận thấy, Philip G.