Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Trung thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Ngọc Anh và TS. Nguyễn Thái Sơn. Công trình thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62 22 80 05, được hoàn thành và nghiệm thu trong giai đoạn 2015 - 2016.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1/2011) và Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã khẳng định yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong thực tế, mặc dù quá trình chỉ đạo đổi mới giảng dạy lý luận chính trị đã được đặt ra từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (1996) cùng hàng loạt chủ trương như Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 12/10/1983 của Ban Bí thư, Quyết định số 1226/QĐ-BGD&ĐT ngày 6/4/1995 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, và Quyết định số 494/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ, nhưng chất lượng đào tạo các môn học này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế.
Tác giả luận án chỉ ra rằng các biện pháp đổi mới trước đây chưa chạm đến vấn đề căn bản nhằm giải phóng tiềm năng sáng tạo của người thầy. Đại đa số giảng viên các môn lý luận chính trị vẫn giữ tư tưởng thụ động, phụ thuộc vào giáo trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, thậm chí một bộ phận giảm sút niềm tin vào nội dung truyền đạt. Vì vậy, việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để giải phóng tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ giảng viên là một đòi hỏi cấp bách.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận và thực tiễn của việc phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam; trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn học này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đội ngũ giảng viên và vai trò của họ trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở bậc đại học, cao đẳng.
- Làm rõ thực trạng, phân tích nguyên nhân và nhận diện những vấn đề đang đặt ra trong việc phát huy vai trò đội ngũ giảng viên thời gian qua.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào hoạt động giảng dạy các môn lý luận chính trị trong hệ thống trường đại học và cao đẳng. Địa bàn khảo sát thực tế được tác giả lựa chọn tại một số cơ sở giáo dục đại học lớn và trường cao đẳng, bao gồm: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương, và Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo 3 nhóm chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu về phát huy nhân tố con người và nguồn lực trí tuệ
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn An Ninh (1999), Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta, chỉ ra thực trạng, thành tựu và hạn chế trong việc phát huy tiềm năng tầng lớp trí thức khoa học xã hội.
- Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Ngọc Lan (2000), Phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, luận giải vai trò của nguồn lực trí tuệ và đề xuất 4 nhóm giải pháp khơi dậy nguồn lực trí tuệ Việt Nam.
- Công trình của Nguyễn Văn Tài (2010), Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay và luận án tiến sĩ của Trần Thị Thủy (2000), Nhân tố con người và những biện pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay, tập trung nghiên cứu động lực lợi ích, dân chủ hóa và trí tuệ hóa đội ngũ cán bộ.
Nhóm các công trình nghiên cứu về giảng dạy và đổi mới giảng dạy lý luận chính trị
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thắng (2001) về giáo dục lý luận chính trị trong quân đội; đề tài KX10.09 của Nguyễn Hữu Vui (2002) về đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin; luận án tiến sĩ của Lê Hạnh Thông (2003) nghiên cứu giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã.
- Kỷ yếu Hội thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), nổi bật là bài viết của Hoàng Tụy: Không thể có sự đổi mới phương pháp trên nền tảng một nội dung lạc hậu, phê phán tư duy thi cử trả bài thuộc lòng và yêu cầu phải đổi mới nội dung chương trình trước khi áp dụng công nghệ vào bài giảng.
- Công trình của Nguyễn Tiến Hoàng (2005) rà soát chương trình các môn Mác - Lênin, chỉ ra các hạn chế như nội dung mang tính chính trị trực tiếp, xuôi chiều, thiếu hàm lượng khoa học, tính chiến đấu mờ nhạt và giáo trình quá nặng nề.
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thạo (2005) về kết hợp tính định hướng chính trị với tính khoa học; tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị; và luận án của Trần Viết Quang (2009) về giảng dạy triết học nhằm rèn luyện tư duy biện chứng cho sinh viên sư phạm.
- Các kỷ yếu hội thảo chuyên ngành năm 2006 tại Trường Đại học Nông nghiệp I, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn về đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc thù sinh viên từng khối ngành.
Nhóm công trình nghiên cứu về đội ngũ giảng viên và quản lý giảng dạy lý luận chính trị
- Đề tài KX10.09 của Phạm Tất Dong (1996) chỉ ra sự tách rời giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở giảng viên trẻ; tác phẩm Giáo dục xin cho tôi nói thẳng của Hoàng Tụy (2010) đề cập thực trạng chế độ đãi ngộ và lương của nhà giáo.
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hoà (2007) về tính tích cực xã hội của giảng viên trường sĩ quan; đề tài khoa học của Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương do Nguyễn Tiến Hoàng làm chủ nhiệm (2007) phân tích thực trạng chỉ đạo, quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo mang nặng tính hình thức; luận án tiến sĩ của Vũ Thanh Bình (2012) về chất lượng đội ngũ giảng viên; và luận án của Nguyễn Thị Thu Thủy (2012) về quản lý đào tạo giảng viên lý luận chính trị.
Khoảng trống luận án giải quyết
Qua tổng quan, tác giả khẳng định các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn hoặc đổi mới phương pháp giảng dạy đơn lẻ. Còn thiếu vắng các nghiên cứu mang tính hệ thống từ góc độ triết học về phương thức và công cụ phát huy vai trò của người giảng viên; chưa chỉ ra được mâu thuẫn giữa cơ chế quản lý tập trung bao cấp về chương trình, giáo trình với nhu cầu tự chủ, sáng tạo của người dạy. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm thiết lập cơ chế dân chủ trong xây dựng chương trình và quản lý hoạt động giảng dạy.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi
- Cơ sở lý luận: Các nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người và giáo dục đào tạo; các chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Khái niệm các môn lý luận chính trị: Luận án làm rõ quá trình biến đổi tên gọi từ "các môn chính trị" (giai đoạn 1956 - 1991) thành "các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh" (từ năm 1991), và đến năm 2008 theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được cấu trúc thành ba môn học bắt buộc cho khối không chuyên gồm:
- Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Khái niệm giảng dạy các môn lý luận chính trị: Tác giả phân biệt giảng dạy lý luận chính trị với giáo dục lý luận chính trị (vốn mang tính truyền bá, phổ biến rộng rãi cho mọi tầng lớp). Trong trường đại học, cao đẳng, giảng dạy lý luận chính trị là quá trình người giảng viên tác động và tái tác động có điều kiện lên hệ thống tri thức môn học trong môi trường giáo dục có sự tham gia của sinh viên, nhằm giúp người học nắm vững tri thức, rút ra tinh thần phương pháp luận để nhận thức chuyên ngành đào tạo và thực tiễn đời sống.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử - lôgic: Dùng để phân tích tiến trình hình thành, phát triển các môn học và hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước từ năm 1956 đến năm 2015.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng trong việc đánh giá thể chế, cơ chế quản lý, nội dung chương trình, giáo trình và thực trạng phẩm chất, năng lực của đội ngũ giảng viên.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập và xử lý số liệu sơ cấp qua phiếu khảo sát:
- Khảo sát thực trạng học tập lý luận chính trị ở 296 sinh viên (về lý do thích/không thích học) và 250 sinh viên (về mục đích học tập).
- Khảo sát thực trạng năng lực tự phát huy và hoạt động giảng dạy ở 475 giảng viên lý luận chính trị tại đợt tập huấn chuyên môn tháng 7/2011 do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Luận án khai thác hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, thông tư lưu trữ tại Phòng Lưu trữ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phòng Hành chính Ban Tuyên giáo Trung ương, Thư viện Quốc gia, Thư viện Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện Tạ Quang Bửu (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Thư viện Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình liên quan đến luận án
Chương này điểm luận chi tiết 3 nhóm nghiên cứu lớn: các công trình về phát huy nhân tố con người và tiềm năng trí thức; các công trình về giảng dạy và đổi mới giảng dạy lý luận chính trị; và các công trình về chất lượng, quản lý đội ngũ giảng viên. Tác giả tổng kết 4 nhóm kết quả mà các học giả đi trước đã đạt được, đồng thời xác định rõ các nội dung luận án cần tiếp tục triển khai: hệ thống hóa lý luận về vai trò giảng viên, phân tích mâu thuẫn trong cơ chế quản lý nội dung - giáo trình và xây dựng giải pháp thực hiện cơ chế dân chủ tập trung trong đào tạo lý luận chính trị.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam
Tác giả phân tích lịch sử đưa các môn học chính trị vào trường đại học từ năm 1956 và làm rõ 3 đặc trưng riêng biệt của việc giảng dạy lý luận chính trị ở bậc đại học, cao đẳng:
- Tri thức lý luận là đối tượng nhận thức có tính tương tác, vận động và giải thích dân chủ, không đơn thuần là sự truyền đạt một chiều.
- Sinh viên là đối tượng người học đa ngành nghề, đòi hỏi tiếp thu tinh thần phương pháp luận hơn là thuộc lòng nội dung lý thuyết thuần túy.
- Nội dung giảng dạy có tính khái quát cao, bắt buộc phải được phù hợp hóa với từng chuyên ngành đào tạo cụ thể.
Luận án xác định 4 chủ thể tham gia vào quá trình phát huy vai trò gồm: Đảng và Nhà nước; các trường đại học, cao đẳng; các khoa, bộ môn lý luận chính trị; và chính bản thân đội ngũ giảng viên. Phương thức phát huy được xác lập thông qua xây dựng thể chế chính sách, đổi mới quản lý chuyên môn và tự bồi dưỡng của giảng viên. Tác giả cũng thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá việc phát huy vai trò dựa trên năng lực nhận thức, kỹ năng sư phạm, năng lực nghiên cứu khoa học và mức độ gắn kết lý luận với thực tiễn.
Chương 3: Thực trạng phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam thời gian qua và những vấn đề đặt ra
Chương này đánh giá quá trình ban hành chủ trương từ Chỉ thị 25-CT/TW (1983), Quyết định 1226/QĐ-BGD&ĐT (1995), Quyết định 494/QĐ-TTg (2002) đến Kết luận 94-KL/TW (2014) của Ban Bí thư. Thực trạng hoạt động dạy - học được định lượng hóa qua các số liệu khảo sát thực tế:
Bảng 1: Kết quả khảo sát thái độ và mục đích học tập của sinh viên
| Nội dung khảo sát |
Tiêu chí phân loại / Phương án trả lời |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Lý do không thích học các môn lý luận chính trị (Khảo sát trên sinh viên không thích học) |
Không liên quan gì đến các môn chuyên ngành và việc làm sau khi tốt nghiệp |
97 |
31,0% |
|
Các môn này rất khó học, rất cao siêu nên không thích |
54 |
29,4% |
|
Các môn này rất nhạt nhẽo, gây buồn ngủ |
43 |
23,4% |
|
Nguyên nhân khác |
30 |
16,3% |
| Lý do thích học các môn lý luận chính trị (Khảo sát trên sinh viên thích học) |
Giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên |
44 |
42,0% |
|
Giáo viên dạy rất hay |
26 |
24,0% |
|
Luôn phấn đấu để có kết quả học tập cao |
16 |
15,0% |
|
Nguyên nhân khác |
20 |
19,0% |
| Mục đích học tập các môn lý luận chính trị (N = 250 sinh viên) |
Môn học bắt buộc nên phải học cho đạt kết quả theo yêu cầu |
156 |
62,0% |
|
Bản thân thích học vì đó là những môn rất quan trọng |
32 |
13,0% |
|
Học để có kết quả cao, phục vụ tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp |
30 |
12,0% |
|
Mục đích khác |
32 |
13,0% |
Bảng 2: Kết quả điều tra năng lực tự phát huy của 475 giảng viên (tháng 7/2011)
| Nội dung điều tra |
Các phương án lựa chọn |
Số lượng (giảng viên) |
Tỷ lệ (%) |
| Môn học hiện đang đảm nhiệm |
Môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam |
167 |
35,0% |
|
Môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin |
164 |
35,0% |
|
Môn Tư tưởng Hồ Chí Minh |
117 |
25,0% |
|
Môn học hoặc công tác khác |
27 |
6,0% |
| Phương pháp giảng dạy chủ yếu trên lớp |
Trình bày nội dung kiến thức bài giảng và giải thích cho sinh viên |
168 |
36,0% |
|
Cho sinh viên nghiên cứu tài liệu trước, lên lớp trả lời và thảo luận |
161 |
34,0% |
|
Tổ chức cho sinh viên tự nghiên cứu, giảng viên chỉ gợi ý |
77 |
16,0% |
|
Phương pháp khác |
66 |
14,0% |
| Trung tâm hoạt động dạy học trên lớp |
Chủ yếu là từ giảng viên, sinh viên nghe là chính kết hợp ghi chép |
212 |
45,0% |
|
Từ giảng viên |
131 |
28,0% |
|
Từ sinh viên |
82 |
17,0% |
|
Phương án khác |
51 |
11,0% |
| Tài liệu cơ bản sử dụng khi giảng dạy |
Giáo trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành |
251 |
52,0% |
|
Bài giảng tự biên soạn |
140 |
29,0% |
|
Tài liệu do bản thân tự biên soạn và xuất bản thành sách |
42 |
9,0% |
|
Nguồn tài liệu khác |
51 |
11,0% |
| Nguồn tài liệu khi biên soạn bài giảng |
Giáo trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành |
271 |
57,0% |
|
Tài liệu khoa học và phương tiện thông tin đại chúng |
91 |
19,0% |
|
Tự nghiên cứu tài liệu của các tác giả kinh điển |
74 |
16,0% |
|
Nguồn tài liệu khác |
36 |
8,0% |
| Tổ chức thực hành, thực tập cho sinh viên |
Không tổ chức thực hành hoặc thực tập |
302 |
64,0% |
|
Có tổ chức thực hành hoặc thực tập |
109 |
23,0% |
|
Mấy năm mới tổ chức một lần |
54 |
11,0% |
|
Ý kiến khác |
6 |
1,0% |
| Hoạt động đơn điệu, nhàm chán nhất |
Chấm bài thi viết tự luận |
246 |
56,0% |
|
Hoạt động khác |
84 |
19,0% |
|
Giảng dạy trên lớp |
59 |
13,0% |
|
Đổi mới, sửa đổi bổ sung bài giảng |
50 |
11,0% |
| Nguồn thu nhập bảo đảm cuộc sống |
Nguồn thu từ nghề dạy học chiếm phần chủ yếu |
228 |
47,0% |
|
Duy nhất từ nghề dạy học và các nguồn phát sinh từ dạy học |
164 |
34,0% |
|
Nguồn sống chủ yếu từ nghề ngoài dạy học |
86 |
18,0% |
|
Nguồn thu khác |
7 |
1,0% |
| Động lực thúc đẩy đổi mới giảng dạy |
Xuất phát từ nhiệm vụ do nhà trường hoặc đơn vị giao |
191 |
42,0% |
|
Xuất phát từ chính nỗ lực tự thân của bản thân giảng viên |
165 |
36,0% |
|
Xuất phát từ nhu cầu của xã hội |
56 |
12,0% |
|
Yếu tố khác |
44 |
10,0% |
Từ thực trạng trên, luận án rút ra 3 vấn đề then chốt:
- Cơ chế quản lý tập trung, bao cấp về nội dung chương trình cản trở tính chủ động của giảng viên.
- Phương thức xây dựng và cung cấp một bộ giáo trình thống nhất dùng chung làm hạn chế nhu cầu cập nhật tri thức mới và làm mất đi mối liên hệ với các ngành học chuyên môn.
- Chưa gắn yêu cầu nâng cao phẩm chất, năng lực của giảng viên với chế độ đãi ngộ, tiền lương và điều kiện làm việc từ phía Nhà nước.
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam hiện nay
Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Nhóm giải pháp về chủ trương, chính sách:
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, nhận thức đúng đắn vai trò trung tâm của người thầy.
- Đổi mới căn bản quan niệm về chương trình và giáo trình: Chuyển từ quản lý áp đặt sang phân cấp quản lý; xem giáo trình chuẩn là khung định hướng, trao quyền cho các cơ sở đào tạo và giảng viên biên soạn đề cương, bài giảng phù hợp với từng khối ngành (khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, xã hội nhân văn, nghệ thuật).
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện của các chủ thể:
- Đối với Đảng và Nhà nước: Đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường nguồn lực tài chính, cải cách chế độ tiền lương và phụ cấp nghề nghiệp, tăng kinh phí nghiên cứu khoa học cho giảng viên lý luận chính trị.
- Đối với các trường đại học, cao đẳng và khoa, bộ môn: Xây dựng môi trường học thuật dân chủ, duy trì sinh hoạt chuyên môn định kỳ, tổ chức dự giờ trao đổi kinh nghiệm, tạo điều kiện cho giảng viên tham gia thực tế và nghiên cứu khoa học.
- Đối với bản thân đội ngũ giảng viên: Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới phương pháp truyền đạt (chuyển từ thuyết trình đơn thuần sang đối thoại, gợi mở, thảo luận), chủ động liên hệ tri thức lý luận với thực tiễn ngành nghề của sinh viên.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và chính xác hóa khái niệm giảng dạy các môn lý luận chính trị trong môi trường đại học, cao đẳng, phân biệt rõ với hoạt động giáo dục lý luận chính trị diện rộng.
- Xác định rõ 3 đặc thù trong giảng dạy lý luận chính trị bậc đại học và thiết lập mô hình 4 chủ thể phát huy vai trò giảng viên gắn liền với phương thức và tiêu chí đánh giá cụ thể.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng sinh động với số liệu điều tra thực nghiệm ở 475 giảng viên và hơn 500 sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng trọng điểm.
- Chỉ ra mâu thuẫn bản chất giữa cơ chế quản lý tập trung, áp đặt giáo trình dùng chung với yêu cầu phát huy năng lực tự chủ của người dạy.
- Đề xuất hệ thống giải pháp phân cấp quản lý chương trình, đổi mới biên soạn giáo trình và chính sách đãi ngộ nhằm tạo động lực thực chất cho đội ngũ giảng viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung chủ yếu ở một số trường đại học lớn và trường cao đẳng tại khu vực phía Bắc (Hà Nội), chưa bao quát hết mạng lưới các trường đại học ngoài công lập, các trường thuộc khối địa phương hoặc các trường đại học ở khu vực miền Trung và miền Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động của cơ chế tự chủ đại học đến động lực đổi mới của giảng viên lý luận chính trị trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu chuyên sâu về quy trình chuẩn hóa việc biên soạn tài liệu giảng dạy lý luận chính trị tích hợp riêng cho từng nhóm ngành khoa học công nghệ cao và nghệ thuật.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý (Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo): Luận án là cơ sở khoa học để tham khảo khi ban hành các văn bản chỉ đạo, điều chỉnh quy định về khung chương trình, sách giáo trình và chính sách phụ cấp, đãi ngộ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị.
- Đối với các trường đại học, cao đẳng: Cung cấp giải pháp tổ chức quản lý chuyên môn, quy trình sinh hoạt học thuật, phương thức liên kết bài giảng lý luận với kiến thức chuyên ngành của từng khoa đào tạo.
- Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành: Cung cấp nguồn tài liệu tổng quan toàn diện về hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước từ năm 1956 đến năm 2014, cùng bộ công cụ điều tra xã hội học về phương pháp giảng dạy đại học.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, các môn lý luận chính trị ở bậc đại học, cao đẳng gồm những môn học cụ thể nào?
Theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các môn lý luận chính trị áp dụng cho sinh viên khối không chuyên gồm 3 môn học: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tác giả luận án định nghĩa hoạt động giảng dạy các môn lý luận chính trị như thế nào?
Giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng là quá trình người giảng viên tác động và tái tác động có điều kiện lên hệ thống tri thức các môn học này trong môi trường giáo dục có sự tham gia của sinh viên; nhằm mục tiêu giúp sinh viên nắm vững hệ thống tri thức đó, rút ra tinh thần phương pháp luận phục vụ cho việc nhận thức tri thức chuyên ngành đào tạo và thực tiễn cuộc sống.
3. Số liệu khảo sát thực tế của luận án phản ánh thực trạng học tập của sinh viên ra sao?
Kết quả khảo sát tại Phụ lục 2 cho thấy có 62% sinh viên học môn này vì đây là môn học bắt buộc phải đạt điểm; trong số những sinh viên không thích học, có 31% nêu nguyên nhân do môn học không liên quan đến chuyên ngành và việc làm sau tốt nghiệp, 29,4% cho rằng môn học quá khó và cao siêu, và 23,4% cảm thấy nội dung nhạt nhẽo, gây buồn ngủ.
4. Kết quả điều tra ở 475 giảng viên chỉ ra những điểm nghẽn nào trong phương pháp giảng dạy?
Theo số liệu tại Phụ lục 3, có 52% giảng viên sử dụng hoàn toàn giáo trình do Bộ ban hành làm tài liệu lên lớp chính; 45% giờ học diễn ra theo hình thức giảng viên là trung tâm, sinh viên chủ yếu nghe và ghi chép; 64% môn học hoàn toàn không được tổ chức thực hành hoặc thực tập; và 56% giảng viên coi việc chấm thi tự luận là công việc đơn điệu, nhàm chán nhất.
5. Luận án đề xuất giải pháp mấu chốt nào đối với chương trình và giáo trình?
Tác giả đề xuất xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp, chuyển đổi nhận thức về giáo trình chuẩn sang vai trò tài liệu khung định hướng; thực hiện phân cấp quản lý để trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học và đội ngũ giảng viên tự chủ biên soạn bài giảng, tài liệu học tập phù hợp với đặc thù đối tượng sinh viên từng khối ngành đào tạo.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Trung là công trình khoa học chuyên ngành Triết học nghiên cứu toàn diện về vấn đề phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy lý luận chính trị tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích lý luận Mác - Lênin và số liệu khảo sát thực tế từ 475 giảng viên và hàng trăm sinh viên, luận án đã làm rõ các rào cản từ cơ chế quản lý giáo trình tập trung bao cấp. Các giải pháp do luận án đề xuất tập trung vào phân cấp quản lý chương trình, dân chủ hóa môi trường học thuật và hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với nhà giáo. Công trình cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý và giảng dạy lý luận chính trị tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay.