CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐÉN LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu về phát huy nhân tố con người Thời gian qua, chủ đề phát huy nhân t6 con người được nghiên cứu khá toàn diện, bao gồm các công trình, dé tài khoa học các cấp, các sách chuyên khảo. Đáng chú ý là đã có một số luận án tiến sĩ triết học đề cập trực tiếp vấn đề nhân tô con người và phát huy nhân té con người. Thứ nhất, luận án tiễn sĩ triết học “Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc đôi mới ở nước ta” của Nguyễn An Ninh (1999), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc đôi mới, luận án đã chỉ ra thực trạng phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội ở nước ta; chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát huy đó. Từ những kết quả khái quát đạt được trong nghiên cứu, công trình đã cung cấp một phương pháp tư duy khi nghiên cứu thực trạng phát huy vai trò của trí thức khoa học xã hội ở nước ta, rất hữu ích cho tác giả của luận án trong hướng nghiên cứu này. Thứ hai, luận án tiễn sĩ triết học của Bùi Thị Ngọc Lan (2000), “Phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Trên cơ sở nghiên cứu nguồn lực trí tuệ va vai trò của nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đôi mới ở nước ta hiện nay, luận án đã khảo sát thực trạng phát huy nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam.
Tác giả cho rằng: “nâng cao năng lực trí tuệ là cái bảo đảm chắc chắn nhất, là con đường duy nhất dé tiến tới giảm thiểu mọi sự bất bình dang và thoát khỏi đói nghèo, gia tăng cơ hội vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình va toàn xã hội” [63, tr. Từ nhận thức đó, luận án đưa ra các giải pháp phát huy nguồn lực trí tuệ, cụ thể: “Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về sự cần thiết phải phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới” [63, tr. 131]; “cải cách, đôi mới hệ thống giáo dục va dao tạo nhằm tạo nguồn 6 cho quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ” [63, tr. 135]; “Tạo động lực thúc day quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ” [63, tr.
151]; “Xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh thúc đầy sự phát triển cao và bền vững của nguồn lực trí tuệ Việt Nam” [63, tr. Nhìn chung, phát huy nguồn lực trí tuệ là đóng góp của công trình, gợi mở cho chúng tôi hướng nghiên cứu về giải pháp phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đăng ở Việt Nam hiện nay. Thứ ba, công trình của Nguyễn Văn Tài (2010), “Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội và luận án tiến sĩ triết học của Trần Thị Thủy (2000), “Nhân tổ con người và những biện pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Cả hai công trình đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhân tố con người, phát huy nhân tố con người; của việc phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ ở Việt Nam; đề xuất những giải pháp phát huy nhân tố con người; phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ Việt Nam.
Riêng công trình của tác giả Nguyễn Văn Tài đã chỉ ra những nhân tố dé phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ can bộ ở nước ta là lợi ích, dân chủ va trí tuệ. Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng, giải pháp dé phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ ở nước ta hiện nay là: Định hướng giá trị - lợi ích đối với người cán bộ; dân chủ hóa mọi hoạt động và trí tuệ hóa đội ngũ cán bộ. Các giải pháp này đã gợi mở cho chúng tôi nghiên cứu về những điều kiện cũng như cách thức để xây dựng các chủ trương, chính sách phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao dang ở Việt Nam hiện nay. Nhìn chung, nhóm các công trình này đã cung cấp những luận điểm quan trọng dé luận giải những vấn đề thực học, thực nghiệp; về tạo điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng to lớn của con người cho sự nghiệp 7 đổi mới.
Các công trình này đã gợi mở cho chúng tôi nghiên cứu phương pháp tiếp cận việc phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính tri ở các trường dai hoc, cao đăng Việt Nam hiện nay. Những công trình nghiên cứu về giảng day và đỗổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở Việt Nam Năm 2001, Nguyễn Văn Thắng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành xây dựng đảng “Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ ở đơn vi cơ sở trong quân đội hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”, Học viện Chính trị Quân sự. Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ ở đơn vị cơ sở hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, công trình đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ ở đơn vị cơ sở. Dựa vào kết quả nghiên cứu, công trình đã khăng định cần “tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính tri cho cán bộ ở đơn vi cơ sở hiện nay” [85, tr.
Tác giả công trình cho rằng, “Thực chất của đôi mới giáo dục lý luận chính trị là sự kế thừa, điều chỉnh, bố sung, phát triển một cách toàn diện nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính tri cán bộ ở đơn vi cơ sở phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới cua cách mạng, của quân đội hiện nay” [85, tr. Đồng thời, công trình cũng khăng định rằng “Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị làm nòng cốt để nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ ở đơn vi cơ sở” [85, tr. Tuy nhiên, các giải pháp đó cần phải được kế thừa trong điều kiện mới thì mới có được khả năng phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đăng Việt Nam. Vấn đề này sẽ được chúng tôi thực hiện trong luận án của mình.
Đề tài KX10, nhánh KX 10.09 “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề chung” của 8 Nguyễn Hữu Vui năm 2002 là một trong những công trình nghiên cứu khá tập trung về đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin. Công trình trình bày tổng quát về đội ngũ giảng viên Mác - Lénin, về những phương pháp giảng dạy truyền thống thường gặp ở đội ngũ và khẳng định, muốn đổi mới hiệu quả phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, vấn đề phải được bắt đầu từ chính đổi mới tư duy, nhận thức của đội ngũ giảng viên về phương pháp giảng dạy, về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp. Muốn vậy, cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chuyên môn cho họ. Đó cũng là một trong những phương thức nâng cao chất lượng đội ngũ.
Từ đó, có tác động tích cực trở lại với đổi mới phương pháp giảng day. Luận án tiến sĩ triết học của Lê Hanh Thông (2003), “Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thong chinh tri cap xa các tinh khu vực Nam Bộ” (qua khảo sat một số trường chính trị trong khu vực), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đã xây dựng được một sé khái niệm công cụ như lý luận, lý luận chính tri, giáo dục ly luận chính tri, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị. Với bộ công cụ đó, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã của các trường chính trị tỉnh ở các tỉnh khu vực Nam Bộ, luận án khẳng định, cần phải đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy cho phủ hợp với các đối tượng cán bộ chủ chốt cấp xã. Tuy nhiên, một số khái niệm công cụ khác như đổi mới, đổi mới giáo dục lý luận chính trị là những khái niệm cơ bản của công trình này thì chưa được các tác giả nghiên cứu.
Đó là những khoảng trống mà chúng tôi sẽ phải tiếp bước. Năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy - học ở Đại học và Cao đăng”. Kỷ yếu của Hội thảo đã đăng 42 công trình về khá nhiều phương diện của đổi mới phương pháp giảng dạy đại học, cao dang. Trong số đó, đáng chú ý là công trình “Không thé có sự đổi mới phương pháp trên nền tảng một nội dung lạc hậu” của 9 Hoàng Tụy.
Công trình đã khăng định thực trạng đáng báo động của nền giáo dục Việt Nam hiện nay, chỉ ra các lộ trình và các bước tuần tự cho đôi mới giáo dục. Trong công trình này, Hoàng Tụy cho rằng, “chưa xác định đúng dan những yêu cầu của nhân lực, nhân tài, dân trí như thé nào dé phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước trong thời gian tới, thì cũng khó hình dung phương pháp giáo dục can thay đổi ra sao” [33, tr. Công trình cũng đã phê phán thói hư học đang là căn bệnh nan y của nền giáo dục Việt Nam hiện nay khi cho rằng “Chi tính riêng thi cử, sở di ở nước ta cứ trién miên là nỗi nhức nhối của xã hội, điều đó có nguyên nhân một phần là do trong xã hội thi cử theo kiểu trả bài thuộc lòng đã trở thành hội chứng tai hại” [33, tr. Công trình chỉ ra hạn chế của các phong trào đôi mới giáo dục ở Việt Nam những năm gần đây là chỉ thiên về việc áp dụng thành tựu của khoa học - công nghệ vào giảng bài mà quên mất nội dung giáo dục là cái cần phải thay đổi đầu tiên.