CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Doanh nghiệp tư nhân và vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân 1. Khái niệm doanh nghiệp tư nhân DN là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình DN, trong đó công ty là một loại hình DN.
Ở Việt Nam, tại Điều 4, Luật DN năm 2020, DN hiểu theo nghĩa hẹp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy, theo nghĩa này khái niệm DN chỉ bao gồm các DN chính thức thành lập và hoạt động theo Luật DN [18]. Theo nghĩa rộng, DN là các tổ chức, hộ gia đình kinh doanh có chức năng sản xuất – kinh doanh hàng hóa, dịch vụ một cách hợp pháp nhằm đạt lợi nhuận hoặc mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội tối đa. Như vậy, theo nghĩa rộng, khái niệm DN bao hàm cả các tổ chức kinh tế như hợp tác xã, các tổ chức sự nghiệp có hoạt động kinh doanh, các DN công ích hoạt động không phải kinh doanh, các hộ gia đình kinh doanh chưa đủ điều kiện thành lập DN theo Luật.
Từ các cách tiếp cận trên có thể hiểu : DN là một tổ chức có chức năng sản xuất – kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; có tư cách pháp lý trong giao dịch – được pháp luật thừa nhận về sự tồn tại hợp pháp trong nền kinh tế trên cơ sở thực hiện đầy đủ các thủ tục đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký thành lập theo quy định; và hoạt động nhằm mục tiêu sinh lợi. DN không tồn tại chung chung mà luôn tồn tại dưới hình thức pháp lý cụ thể. Ở mỗi giai đoạn phát triển, mỗi quốc gia đều xác định các hình thức pháp 9 lý cụ thể của doanh nghiệp. Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành có các hình thức pháp lý của DN như sau: Hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhóm công ty.
Mỗi loại hình DN có đặc trưng riêng có khả năng đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế và những hạn chế khác nhau. Chính vì vậy việc lựa chọn được một hình thức DN phù hợp với tính chất kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng của người bỏ vốn thành lập là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của DN về sau. Theo Luật DN năm 2020: DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN [18]. Hiện nay, ở nước ta DNTN được kinh doanh không hạn chế về quy mô, địa bàn và hoạt động trong các ngành mà pháp luật không cấm.
Nhà nước công nhận vai trò và tác động tích cực của DNTN cũng như những loại hình DN sở hữu tư nhân, bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo hộ sự làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp cũng như các quyền lợi khác của các chủ DNTN. Chủ sở hữu duy nhất của DNTN là một cá nhân. DNTN không có tư cách pháp nhân. Chủ DNTN có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của DN; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Chủ DNTN có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý DN, thì chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của DN. Do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ DNTN cao, chủ DN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của DN và của chủ DN chứ không giới hạn số vốn mà chủ DN đã đầu tư vào DN. Hình thức DNTN thích hợp với việc kinh doanh ở quy mô nhỏ.
Đặc điểm doanh nghiệp tư nhân Thứ nhất, DNTN có tính hợp pháp, hay nói cách khác là được nhà nước thừa nhận khi đáp ứng đầy đủ điều kiện thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành. Thứ hai, chủ sở hữu duy nhất của DNTN là một cá nhân. Các DNTN hoạt động dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và gắn liền với lợi ích cá nhân. Chủ DNTN có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của DN, có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Nếu kinh doanh có lãi thì DN được hưởng lợi, ngược lại nếu kinh doanh thua lỗ thì DN chịu thiệt hại. Chủ DNTN có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý DN, thì chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của DN. Thứ ba, DNTN không có tư cách pháp nhân Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: một là, được thành lập hợp pháp; hai là, có cơ cấu tổ chức rõ ràng; ba là, có tài sản độc lập với các cá nhân tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; bốn là, nhân danh mình khi tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Có thể thấy DNTN không thỏa mãn điều kiện thứ ba, tài sản của DNTN không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ DN. Tài sản mà chủ DN đầu tư và hoạt động kinh doanh của DNTN không phải không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho DN. Tiêu chuẩn đầu tiên để xét tính độc lập về tài sản của một DN là tài sản của DN đó phải độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ DN. DNTN không thỏa mãn tiêu chuẩn quan trọng này vì thế không hội tụ đầy đủ điều kiện để có được tư cách pháp nhân.
Thứ tư, DNTN là DN chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN 11 Khác với các loại hình Công ty là sự đóng góp vốn của nhiều chủ sở hữu, DNTN là DN mà vốn đầu tư thuộc sở hữu duy nhất một người là chủ DNTN nên nó có đặc điểm trên và đây là loại hình phù hợp với ai muốn độc lập, tự chủ trong kinh doanh, tự quyết và chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của bản thân và DN. Bên cạnh đó còn có các đặc điểm khác như: DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN. Chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần [18]. Vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển kinh tế - xã hội DNTN có nhiều đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của thể hiện: Thứ nhất, Thứ nhất, DNTN góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, sự lớn mạnh về quy mô, số lượng DN và từng bước tham gia vào các ngành nghề và lĩnh vực của nền kinh tế: Theo báo cáo của Ban Kinh tế Trung ương từ năm 2016 đến nay mỗi năm có thêm trung bình hơn 110 nghìn DN thành lập mới, năm 2021 mặc dù ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, nhưng vẫn có 85.483 DN thành lập mới, cộng đồng DNTN được thụ hưởng nhiều kết quả được cải cách thông qua việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và các chính sách của nhà nước về hỗ trợ, phát triển DN. Bên cạnh đó tinh thần khởi nghiệp lan toả rộng rãi trong xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của DNTN trong một số lĩnh vực như xây dựng, chế biến, chế tạo, công nghiệp ô tô, vận tải hàng không, tài chính ngân hàng,… góp phần không nhỏ trong phát triển thương hiệu quốc gia Việt Nam trong những ngành , lĩnh vực có nhiều tiềm năng, thế mạnh. Mặt khác, các DNTN ngày càng đóng góp 12 nhiều hơn cho ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước từ các DN ngoài nhà nước liên tục tăng trên 16%/năm trong giai đoạn 2015-2021, tỷ trọng đóng góp vào thu ngân sách nhà nước của loại hình DNTN luôn đạt ở mức gần 33 – 34,5% ở tất cả các năm trong giai đoạn 2015 – 2021 và cao hơn DN nhà nước.
Theo tính toán, nếu đầu tư tư nhân (chưa tính đến hộ kinh doanh cá thể) tăng 1%, sẽ giúp GDP của Việt Nam năm 2020 tăng trưởng thêm khoảng 0,15 điểm % [9]. Thứ hai, DNTN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt làm những năm vừa qua, một số DNTN ở Việt Nam đã trở thành những tập đoàn kinh tế lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và tham gia vào các hợp đồng kinh doanh với nhiều đối tác lớn như Vingroup, Sun Group, T&T Group, Thaco, Vietjet, TH True Milk, Masan. Thông qua hình thức liên doanh, liên kết các DNTN đã thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của nền kinh tế nhất là trong việc nhận chuyển giao các công nghệ tiên tiến, phù hợp với Việt Nam cũng như mở rộng thị trường, đặc biệt là đối với một số sản phẩm có ưu thế, sản phẩm đặc trưng của Việt Nam ra thị trường thế giới.
Với sự năng động của mình, các DNTN ở Việt Nam những năm qua đang dần khẳng định sự vượt trội so với DN nhà nước ở khía cạnh này. Thứ ba, DNTN phát triển góp phần thu hút lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. DNTN phát triển có thể thu hút một lực lượng lao động đông đảo, đa dạng, phong phú cả về số lượng và chất lượng từ lao động có tinh chất giản đơn đến lao động có tính chất phức tạp ở nhiều địa phương, nhiều tầng lớp dân cư.