CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ HIỆN ĐẠI 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Vấn đề quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp Có nhiều nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp. Tất cả các nghiên cứu đều gặp nhau ở điểm nhấn mạnh đến vai trò của quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp và đưa ra các đề xuất để cải thiện và nâng cao hiệu quả của việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp.
Điển hình là Nguyễn Pháp [82] với “Quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp” đã đưa ra một số vấn đề về lý luận và thực tiễn trong việc quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đồng quan điểm với Nguyễn Pháp, Vũ Huy Từ [123] trong “Vai trò quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp” cũng nhấn mạnh đến vấn đề sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và việc cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước. Khác biệt ở chỗ, Vũ Huy Từ chỉ ra sự đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở nước ta. Trong “Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp”, Nguyễn Thế Quyền [94] đã chỉ ra những điểm bất hợp lý trong các chính sách hiện hành về quản lý nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước cũng như là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và đề xuất 3 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp: 1.
Tiếp tục hoàn thiện pháp luật quản lý doanh nghiệp; 2. Đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan quản lý; 3. Nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm, đạo đức của cán bộ quản lý. Vũ Xuân Bình [9] tiến hành phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của các loại hình doanh nghiệp Việt Nam phân loại dựa trên hình thức sở 11 hữu: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Từ đó đã đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong bài “Quản lý doanh nghiệp - Nhiệm vụ trung tâm của quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam”. Có những phân tích rất sâu, đi vào các khía cạnh cụ thể của vấn đề quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp. Như Vũ Minh [64] với “Ai chịu trách nhiệm và quản lý ra sao?” đã nêu bật 2 vấn đề chính trong công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp: 1. Cơ quan nào là đầu mối, chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp?; 2.
Công cụ chủ yếu và quan trọng nhất để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là gì? “Thể chế Nhà nước đối với một số loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay”, Nguyễn Cúc [22] cũng nhấn mạnh đến vấn đề cải cách thể chế nhà nước, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Cuốn sách đã phân tích lần lượt từng loại thể chế của doanh nghiệp đối với các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các hợp tác xã. Còn Lâm Huy Tích [113] đã nhấn mạnh đến những bất cập của Luật doanh nghiệp, những yếu kém trong công tác giám sát thi hành luật và hậu quả của chúng thông qua một số dẫn chứng thực tế trong “Quản lý Nhà nước dựa theo cơ cấu vốn thay cho can thiệp trực tiếp bằng hành chính”. Hay nghiên cứu “Vấn đề chuyển đổi chức năng quản lý nhà nước trong thực hiện Luật doanh nghiệp” [108] phân tích những khía cạnh chuyển đổi chức năng quản lý của nhà nước và những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Doanh nghiệp.
Ngô Tuấn Anh [4] lại nhấn mạnh đến “Những chuyển biến về quan niệm mô hình tổ chức doanh nghiệp trong thế kỷ XXI”. Tác giả cho rằng, trong thời kỳ hội 12 nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự chuyển biến của môi trường kinh doanh cũng khác đi, Lúc đó, doanh nghiệp cần phải chú ý đến sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển công nghệ, nhu cầu khách hàng. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố là: 1. gọn nhẹ và nhanh chóng; 2.
Linh hoạt trong vai trò và kỹ năng; 3. Tích hợp hệ thống; 4. Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI TS. Trần Xuân Hải [35] đã nhấn mạnh trong “Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI” rằng Vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế đối với các doanh nghiệp có vốn FDI thể hiện: Duy trì sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, tạo dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng, khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh.
Tuy nhiên các doanh nghiệp hoạt động phải tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường. Điều đó có nghĩa là Chính phủ cũng phải tôn trọng kỷ cương thị trường song song với kỷ cương của Nhà nước. Các chính sách và biện pháp mà Chính phủ áp dụng phải tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường. Ông cũng chỉ ra rằng, Việt Nam hiện nay chưa có một hệ thống tổ chức hoàn chỉnh cũng như chưa có các quy định cụ thể về quản lý doanh nghiệp có vốn FDI sau khi được cấp giấy phép đầu tư.
Trong “Phân cấp quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp”, Th.S Vũ Xuân Bình [9] đã chỉ ra những thành công và những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động FDI ở Việt Nam. Trong đó nhấn mạnh những hạn chế từ các Bộ, ngành (chính sách chưa đồng bộ, hay thay đổi và thiếu thông tin, chưa có chương trình quốc gia về vận động xúc tiến đầu tư, quy mô phân cấp còn nhiều bất cập, chưa hợp lý và còn cứng nhắc,.) và những hạn chế từ các cơ quan quản lý địa phương (thiếu sự phối hợp giữa địa phương và Bộ KHĐT, có những quy định vượt quá khuôn khổ 13 pháp luật hiện hành dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, chưa có cơ chế quản lý và tổ chức thành lập cơ chế quản lý “một cửa”.) Nghiên cứu “25 năm thu hút FDI: Góc nhìn từ quản lý nhà nước”, cùng với việc chỉ ra những đóng góp lớn của FDI cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, TS. Phan Hữu Thắng [97] đã nêu ra các hạn chế và đưa ra 2 đề xuất trên 2 khía cạnh: 1. Công tác quản lý đối với FDI.
Ông đặc biệt nhấn mạnh đến việc cải thiện bộ máy quản lý nhà nước về FDI có thể theo 2 mô hình (mô hình ủy ban liên bộ và mô hình trực thuộc bộ và phân cấp); 2. Lựa chọn đối tác chiến lược trong thu hút và sử dụng FDI, hướng vào các thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn vốn FDI. Lê Thị Thanh Thúy [111] đã chỉ ra nghiên cứu trường hợp cụ thể FDI tỉnh Quảng Ngãi trong “Công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Quảng Ngãi”. Tuy các dự án FDI ở Quảng Ngãi đã bổ sung nguồn vốn hữu ích, góp phần đáng kể cho việc đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng công tác quản lý nhà nước đối với FDI của tỉnh còn nhiều vấn đề: thủ tục hành chính rườm rà, việc thực hiện và kiểm tra dự án FDI vẫn còn bất cập, chưa thu hút được các dự án có chất lượng cao về công nghệ, chính sách thuế còn nhiều bất hợp lý.
Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp Việt Nam Trong “Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp”, TS. Trang Thị Tuyết [128] đã nhấn mạnh đến thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước hiện nay còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là các cơ quan quản lý nhà nước quá dễ dàng thậm chí quá tùy tiện trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước. Một số cơ quan quản lý nhà nước còn có khả năng thâm nhập vào nội tình doanh nghiệp nhà nước, tác động dưới mọi hình thức để tạo vụ lợi cho mình.
Hơn nữa bộ máy quản lý doanh 14 nghiệp nhà nước rất cồng kềnh, do quyền của nhà nước rất lớn trong việc thiết lập bộ máy này. Điều này sẽ tăng chi phí bộ máy quản trị doanh nghiệp đồng thời lại gây cản trở cho việc hiện đại hóa quá trình điều hành doanh nghiệp nhà nước. Trong cuốn “Đảng cộng sản Việt Nam với công tác cải cách bộ máy hành chính và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước” [139], các tác giả đã tập hợp các văn kiện, nghị quyết quan trọng của Đảng và các văn bản của Chính phủ về công tác cải cách bộ máy hành chính nhà nước (từ năm 1994-2003) và những văn bản quản lý nhà nước về doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp (từ năm 1998-2004). Nguyễn Thế Quyền [94] trong “Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp” đã chỉ ra một số điểm bất hợp lý trong hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước.
Đó là, việc cổ phần hóa DNNN tiến hành khá chậm, chưa đúng lộ trình; chưa có sự phối hợp giúp đỡ doanh nghiệp giải quyết khó khăn trong quá trình cổ phần hóa, trong quá trình chuyển đổi các DNNN, nhiều DNNN không được cổ phần hóa mà được chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, tức là không thay đổi chế độ sở hữu trong các doanh nghiệp; cơ chế quản lý chưa thực sự hợp lý, thực hiện chưa thống nhất.