CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Kinh tế tư nhân (KTTN) là một trong những thành phần kinh tế cấu thành nền kinh tế quốc dân, là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, ở thành phần kinh tế này thì chủ sở hữu hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của Nhà nước. Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTTN là một trong những thành phần phát triển khá năng động. Tìm hiểu những vấn đề chung như quan điểm Chủ nghĩa Mác Lênin về KTTN; tính tất yếu khách quan và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển KTTN; đặc điểm, vai trò KTTN trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, … có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn trong phát triển kinh tế - xã hội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1.
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin về phát triển kinh tế tư nhân Trong quá trình nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh, Các Mác đã phát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với 8 tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mà trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu với các loại hình và hình thức phong phú của nó là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, mặt khác, đến lượt nó, quan hệ sở hữu lại có tác động kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì vậy cần thay đổi chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất khi nó đã đạt đến trình độ xã hội hóa cao. Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, kinh tế tư nhân với tư cách là biểu hiện cụ thể của sở hữu tư nhân trong điều kiện là quan hệ sản xuất thống trị với hai tính chất: Sở hữu tư nhân dựa vào lao động của bản thân chủ sở hữu và sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Thứ nhất: sở hữu tư nhân dựa vào lao động của bản thân chủ sở hữu, tức là “sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân” [2,tr. Với trình độ này, những người cộng sản không cần phải xóa bỏ, bởi chính nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí đã hàng ngày, hàng giờ xóa bỏ nó rồi.
Mác nói: “cái mà người công nhân chiếm hữu được bằng lao động của mình cũng chỉ đủ để tái sản xuất ra sự sống ngày mai. Vì sự chiếm hữu ấy không đẻ ra một quyền lực chi phối lao động của người khác” [3,tr. Thứ hai: chế độ sở hữu không phải là sở hữu riêng của một cá nhân bất kỳ mà người chủ sở hữu đó có thể chiếm đoạt kết quả lao động của người khác. Ông nói: “chế độ sở hữu tư sản … lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột người kia” [2, tr.
615] vì vậy ông khẳng định: “Điều chúng tôi muốn là xóa bỏ tính chất bi thảm của cái phương thức chiếm hữu nó khiến cho người công nhân chỉ sống để làm tăng thêm tư bản và chỉ sống trong chừng mực mà những lợi ích của giai cấp thống trị đòi hỏi” [2, tr. Đồng thời Mác cũng khẳng định; không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được, cũng như không thể làm cho lực lượng sản xuất tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu, việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân là do quy luật khách quan trong quá trình phát triển của xã hội loài người quyết định (không thể vượt qua sự phát triển đầy đủ của lực lượng sản xuất và sự 9 chín muồi của các điều kiện kinh tế xã hội, tức là cưỡng chế, đi ngược quy luật), cũng như sẽ là ấu trĩ và phi lý nếu cho rằng trái đất cuối cùng sẽ bị hủy diệt, rồi từ đó không tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào nữa, tương tự sẽ là ấu trĩ và vu vơ nếu cho rằng xóa bỏ sở hữu tư nhân là kết quả tất yếu của sự phát triển xã hội loài người, để rồi từ đó không cho phép chế độ sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển. Theo Mác, bản chất của xoá bỏ chế độ tư hữu là xóa bỏ chế độ kinh tế trong đó một thiểu số người nắm tư liệu sản xuất dùng để bóc lột, nô dịch đa số người lao động làm thuê.Ăngghen đã viết: “Chủ nghĩa cộng sản không tước của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” (C.
Khi nói về KTTN, V.Lênin cũng đã bàn nhiều đến vấn đề này, trong đó nhấn mạnh phát triển kinh tế tư bản tư nhân. Đầu thế kỷ 20, ở nước Nga, V.Lênin đã chủ trương thực hiện kinh tế mới (NEP), V.Lênin cho rằng, từ trình độ xuất phát về kinh tế, kỹ thuật thấp như nước Nga phải học tập các nhà tư bản, phải làm phần việc mà nhà tư bản cần làm là xây dựng chủ nghĩa tư bản nhà nước.Lênin, ở Liên xô là một nước tiểu nông, lực lượng cơ bản là nông dân, vì vậy, mấu chốt cơ bản nhất, cấp thiết nhất là: “phục hồi ngay những lực lượng sản xuất của kinh tế nông dân” (V. Theo Người, không nên xoá bỏ KTTN vì nó có vai trò và tác dụng nhất định, Người viết: “tìm cách ngăn cấm, triệt để mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là của thương mại, tức là của chủ nghĩa tư bản, một sự phát triển không thể tránh khỏi được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ. Chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó.
Dại dột, vì về phương diện kinh tế chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản” (V. Đương nhiên trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần dưới sự quản lý của chính quyền Xô Viết, kinh tế tư 10 nhân không hoàn toàn giống kinh tế tư nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng chiếm đoạt giá trị thặng dư vẫn là bản chất của kinh tế tư bản tư nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng, trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó vai trò KTTN không kém phần quan trọng, bởi vì nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp kém phát triển. Người viết: “… đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh,1996,tr.247), và Người còn cho rằng: Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau như: Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân); Các hợp tác xã (nó là nửa CNXH, và sẽ tiến lên CNXH); Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa CNXH); Tư bản tư nhân và Tư bản nhà nước.
Trong năm loại ấy, Kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển cao hơn cả, cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản” (Hồ Chí Minh,1996,tr. Như vậy, trong năm thành phần kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi KTTN bao gồm: “Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội) và Tư bản tư nhân”. Đây là những thành phần kinh tế sẽ tồn tại trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm rất rõ ràng về vị trí, vai trò của KTTN và Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng chủ trương, chính sách phát triển KTTN góp phần phát triển kinh tế của quốc gia.
Bằng phương pháp biện chứng, duy vật về lịch sử Các Mác, Ăngghen cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đều đã phân tích, đánh giá bản chất và vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân cũng như những hạn chế của nó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đồng thời các ông cũng chỉ ra sự tồn tại của kinh tế tư nhân trong một giai đoạn nhất định là tất yếu khách quan, có vị trí, vai trò quan trọng và cần thiết trong cơ cấu nền kinh tế - xã hội. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân 1. Kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là một phạm trù kinh tế mà trong công cuộc đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm. Để hiểu rõ KTTN chúng ta cần tìm hiểu về sở hữu tư nhân trong mối quan hệ với KTTN.
Vì chế độ sở hữu có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh tế xã hội. KTTN gắn liền với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên chúng ta cần phải làm rõ về sở hữu tư nhân. Sở hữu là hình thức chiếm hữu của cải vật chất do lịch sử quy định, trong đó thể hiện quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội. Sự phát triển của các hình thức sở hữu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định” (Từ điển Triết học,1975,1986,tr.
Phạm trù sở hữu có ba mặt: đối tượng sở hữu, chủ sở hữu, quan hệ sở hữu.