Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản nhà nư c đ i v i các do nh nghiệp th m định giá Chương 2: Thực trạng công tác quản nhà nư c đ i v i các do nh nghiệp th m định giá tại iệt N m Chương 3: Một s giải pháp hoàn thiện công tác quản nhà nư c đ i v i các doanh nghiệp th m định giá gi i đoạn t i. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TH C TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI C C OANH NGHIỆP THẨM ĐỊNH GI 1.1 Một số khái niệm và cơ sở lý luận 1.1 D ch vụ, d ch vụ công và d ch vụ kinh doanh 1.1 Dịch vụ Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là hoạt động lao động mang tính xã hội tạo ra các sản phẩm không t n tại dưới dạng hình thái vật thể, không dẫn tới việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. Đặc điểm của dịch vụ - Tính không hiện hữu: Dịch vụ có tính vô hình đó là không thể thử trước được, phải sử dụng thì mới cảm nhận được. Điều này gây ra những khó khăn nhất định đối với nhà cung ứng dịch vụ.
- Tính không tách rời: Thể hiện sự đ ng thời về không gian và thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ. - Tính không xác định: Dịch vụ không giống nhau giữa các lần phục vụ khác nhau dù là cùng một nhân viên, một nhà cung cấp hay một loại hình dịch vụ. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào trình độ của nhân viên, tâm lý tình cảm của khách hàng. - Tính không t n kho: Dịch vụ không thể lưu trữ và lưu kho do quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đ ng thời.
Khái niệm dịch vụ công Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ ản của t chức và công dân, do hà nước trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.2 Phân biệt dịch vụ công và dịch vụ kinh doanh Ngoài những đặc điểm giống với dịch vụ nói chung thì dịch vụ công và dịch vụ kinh doanh được phân biệt qua một số nội dung sau: Bảng 1.1: Phân biệt dịch vụ công và dịch vụ kinh doanh STT Nội dung Dịch vụ công Dịch vụ kinh doanh Do hà nước chịu trách Do các t chức không nhiệm trước xã hội, ngay phải hà nước cung cấp Nhà cung cấp 1 cả khi hà nước chuyển dịch vụ và chịu trách dịch vụ giao cho tư nhân cung cấp nhiệm trước xã hội. 2 Mục đích Hiệu quả và công bằng. - Hoạt động phục vụ cho lợi - Hoạt động phục vụ ích chung thiết yếu, các cho lợi ích cá nhân của quyền và nghĩa vụ cơ ản các t chức, doanh của các t chức và công nghiệp. 3 Đặc điểm dân.
- Có tính không loại trừ và - Có tính loại trừ và tính tính cạnh tranh (một số dịch cạnh tranh. vụ công có tính cạnh tranh- dịch vụ bán công).2 Quản n nư c i v i doanh nghi p - Khái niệm về quản lý Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện, cơ chế khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra, phù hợp với quy luật vận động khách quan của xã hội Quản lý là một hệ thống bao g m các yếu tố: đầu vào, đầu ra, quá trình biến đ i đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu; các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản lý cần giải quyết, mặt khác chúng ảnh hưởng tới hiệu lực và hiệu quả của quản lý. 8 - Khái niệm về QLNN QLNN là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực hà nước, được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người; duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của hà nước.
Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động của hà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của hà nước. Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính hà nước nhằm đảm bảo chấp hành pháp luật và các nghị quyết của cơ quan quyền lực hà nước để t chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội. hư vậy, Q tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, y tế, kinh tế… trong đó, quản lý các doanh nghiệp thẩm định giá là một nội dung. QLNN bao g m hai cấp độ chính: cấp Trung ương và cấp địa phương (tỉnh, thành phố).
- Khái niệm QLNN v i doanh nghiệp Q đối với doanh nghiệp là sự tác động có chủ đích, có t chức và bằng pháp quyền hà nước lên các doanh nghiệp và vì mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. - ự c n thi t NN đ i v i do nh nghiệp hà nước phải can thiệp vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế vì những lý do sau đây: + Nền kinh tế quốc dân là nơi chứa đựng nhiều mâu thuẫn lợi ích vật chất ph biến, thường xuyên, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn liên quan đến các doanh nghiệp. Để giải quyết các mâu thuẫn này hà nước bắt buộc phải can thiệp để đảm bảo n định kinh tế, phát triển đất nước và một mặt thể hiện quyền lực và trách nhiệm của hà nước đối với toàn dân. + Nhà nước phải quản lý doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp là nòng cốt của nền kinh tế, là đơn vị chủ chốt tạo ra giá trị, lợi nhuận cho toàn xã hội, thể hiện bộ 9 mặt của đất nước, vì vậy hà nước cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi, ình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác phát triển; xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phù hợp với sử dụng lực lượng vật chất của hà nước.
- i tr củ NN đ i v i do nh nghiệp Vai tr của Q đối với doanh nghiệp được thể hiện ở việc: + Định hướng, hướng dẫn cho các doanh nghiệp hoạt động theo đúng khuôn kh , quy định của pháp luật, tạo môi trường pháp lý lành mạnh, minh ạch và cạnh tranh cho doanh nghiệp. + Thực hiện kiểm tra, thanh tra hoạt động của doanh nghiệp. + Phối hợp hoạt động Q giữa các cơ quan liên quan từ trung ương tới địa phương, các ngành các cấp trong việc quản lý doanh nghiệp. Xây dựng một hệ thống cơ quan Q đối với doanh nghiệp chuyên nghiệp và hiệu quả.
+ Dẫn dắt, chỉ lối cho doanh nghiệp ngày một vươn xa, vươn cao ra khu vực và thế giới. - Nội dung NN đ i v i doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 [14], nội dung Q đối với doanh nghiệp bao g m: + Ban hành, ph biến và hướng dẫn thực hiện các văn ản pháp luật về doanh nghiệp và văn ản pháp luật có liên quan. + T chức đăng ký kinh doanh; hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh bảo đảm thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội. + Đào tạo, b i dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp.
+ Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. + Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và t chức có liên quan theo quy định của pháp luật.3 Th m nh giá, d ch vụ th m n g v ặc ểm 1.1 Khái niệm th m định giá [12, Tr. 1, 2] Ở các nước, người ta thường sử dụng hai từ tiếng Anh là Appraisal và Valuation để nói đến thẩm định giá. Ngu n gốc từ ngữ của cả hai thuật ngữ này là từ tiếng Pháp.
Valuation xuất hiện vào năm 1529 c n Appraisal từ năm 1817. Hai thuật ngữ đều có chung ý nghĩa, đó là sự ước tính, đánh giá và có hàm ý là cho ý kiến của một nhà chuyên môn về giá trị của một vật phẩm nhất định. Khi nghiên cứu về thẩm định giá, giới nghiên cứu học thuật trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau: Theo tự điển Oxford: Thẩm định giá là sự ước tính giá trị bằng tiền của một vật, của một tài sản ; là sự ước tính giá trị hiện hành của tài sản trong kinh doanh .Sea rooke - Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh: Thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định. Theo Ông Fred Peter Marrone - Giám đốc Marketing của AVO, Úc Thẩm định giá là việc xác định giá trị của bất động sản tại một thời điểm có tính đến bản chất của bất động sản và mục đích của thẩm định giá.
Do vậy, thẩm định giá là áp dụng các dữ liệu của thị trường so sánh mà các thẩm định viên thu thập được và phân tích chúng, sau đó so sánh với tài sản được yêu cầu thẩm định giá để hình thành giá trị của chúng. Qua các khái niệm trên có thể thấy khi đề cập đến thẩm định giá đều có chung một số yếu tố là: + Sự ước tính giá trị hiện tại. + Tính bằng tiền tệ + Về tài sản, bất động sản hoặc các quyền sở hữu đối với tài sản, bất động sản. + Theo yêu cầu, mục đích nhất định.
+ Ở địa điểm, thời điểm, thời gian cụ thể. + Trên cơ sở sử dụng các dữ liệu, các yếu tố của thị trường. Do vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm về thẩm định giá như sau: 11 Thẩm định giá là một nghệ thuật hay một khoa học về ước tính giá trị của tài sản (quyền tài sản) phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định theo những tiêu chuẩn được công nhận như những thông lệ quốc tế hoặc quốc gia .