phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2013 Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh Xăng dầu 1.
Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc trong Thƣơng mại 1. Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nƣớc về kinh tế, đó là sự tác động có hƣớng đích, có tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý trên tầm vĩ mô về thƣơng mại các cấp đến hệ thống bị quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện môi trƣờng xác định. Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại bao giờ cũng là một quá trình thực hiện và phối hợp bốn loại chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát của các cơ quan quản lý vĩ mô các cấp. Các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nƣớc về thƣơng mại là ngƣời ra quyết định, ngƣời tổ chức, điều hành và tác động tới các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân tiến hành hoạt động thƣơng mại trong phạm vi thị trƣờng cả nƣớc, thị trƣờng từng địa phƣơng cũng nhƣ thị trƣờng ngoài nƣớc theo phạm vi phân công, phân cấp quản lý.
Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình trong điều hành và quản lý thƣơng mại thông qua ban hành và sử dụng các công cụ kế hoạch hóa, chính sách, luật pháp và các quy định khác về thƣơng mại để tác động tới các chủ thể ngƣời bán, ngƣời mua trên thị trƣờng. Sự tác động của hệ thống quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại đến đối tƣợng trao đổi luôn đặt trong mối quan hệ 7 z với môi trƣờng cụ thể, xác định trong từng thời kỳ [15]. Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại vừa phản ánh những đặc điểm chung của quản lý, vừa thể hiện nét đặc thù. Những đặc điểm chung của quản lý kinh tế.
Mọi loại hình quản lý kinh tế đều bao gồm 2 hệ thống: chủ thể hay cơ quan quản lý và khách thể hay đối tƣợng quản lý; con ngƣời là trung tâm của quản lý nằm ở cả 2 hệ thống, do vậy, mọi quản lý suy cho cùng là quản lý con ngƣời, do con ngƣời và vì con ngƣời; quản lý bao giờ cũng có sự trao đổi thông tin và liên hệ ngƣợc, nếu không có thông tin sẽ mất đi linh hồn của quản lý kinh tế; quản lý luôn có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trƣờng; quản lý kinh tế luôn hƣớng vào mục tiêu xác định và phải có giải pháp để thực hiện mục tiêu đã vạch ra. Tính đặc thù của quản lý nhà nước về thương mại. Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại có tính đặc thù thể hiện ở mục tiêu và các công cụ, phƣơng tiện sử dụng nhằm đạt mục tiêu. Mục tiêu của quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại gắn liền với quá trình kinh tế - xã hội, các lợi ích cần phải đạt đƣợc từ thƣơng mại trong từng thời kỳ cụ thể.
Mục tiêu của quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại bị chi phối bởi mục tiêu của quản lý kinh tế - xã hội mà Đảng, Nhà nƣớc đã vạch ra. Mục tiêu bao trùm của quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại là thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế ổn định, bền vững và đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội. Để đạt mục tiêu, quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại cần phải có quá trình tổ chức, công nghệ và kỹ thuật để vận hành, phải sử dụng các công cụ, phƣơng tiện mang tính liên ngành (nhƣ các chiến lƣợc, các quy hoạch, các loại luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau,…) để điều tiết hoạt động 8 z thƣơng mại theo định hƣớng mục tiêu, phù hợp với lợi ích mong muốn trong mỗi thời kỳ. Tuy nhiên, vấn đề lợi ích và quan hệ lợi ích giữa các bên, các chủ thể trong kinh tế thƣơng mại đƣợc xem trọng hàng đầu, trong khi đó đối với các lĩnh vực sản xuất (chẳng hạn trong công nghiệp), các liên kết về kỹ thuật đƣợc coi trọng trƣớc tiên trong quản lý và là nền tảng mang lại các giá trị, các lợi ích về kinh tế.
Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại bao gồm quản lý các chủ thể thƣơng nhân, các nhà sản xuất và ngƣời tiêu dùng trong và ngoài nƣớc cũng nhƣ các hoạt động trao đổi của họ, cùng các hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thƣơng mại, trong khi đó quản lý nhà nƣớc trong các lĩnh vực sản xuất lại không hàm chứa các hoạt động và hành vi của những ngƣời tiêu dùng hàng hoá đó. Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại còn bao gồm việc kiểm tra việc chấp hành chính sách, luật pháp và các định chế khác có liên quan tới lĩnh vực thƣơng mại. Nó liên quan tới nhiều cấp, nhiều ngành và đòi hỏi phải có sự phối hợp cả trong nƣớc và quốc tế (nƣớc đối tác thƣơng mại, các tổ chức kinh tế, thƣơng mại khu vực và quốc tế) [15]. Chức năng quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại - Chức năng kế hoạch hoá thương mại Kế hoạch hoá thƣơng mại là toàn bộ quá trình hoạch định và triển khai thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chƣơng trình, dự án phát triển thƣơng mại của quốc gia bao gồm phạm vi của cả nƣớc, của từng địa phƣơng, từng vùng và theo từng ngành hàng, ngành dịch vụ phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của tiến trình CNH, HĐH đất nƣớc và hội nhập quốc tế.
Nhà nƣớc thực hiện chức năng kế hoạch hoá để định hƣớng, hƣớng dẫn hoạt động thƣơng mại và đầu tƣ của các chủ thể tham gia thị trƣờng trong 9 z nƣớc cũng nhƣ thị trƣờng quốc tế. Giúp các doanh nghiệp có sự lựa chọn và quyết định đúng đắn, chiến lƣợc, chính sách và kế hoạch sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển. Các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tiếp cận thông tin từ các văn bản kế hoạch hoá nhƣ: các chiến lƣợc và dự báo phát triển kinh tế, thƣơng mại và thị trƣờng; quy hoạch mạng lƣới thƣơng mại, hệ thống thị trƣờng, thƣơng nhân và kênh phân phối; các chƣơng trình dự án phát triển hạ tầng thƣơng mại, phát triển dịch vụ hỗ trợ thƣơng mại và cạnh tranh; kế hoạch, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển thƣơng mại trong từng thời kỳ,v. Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại, cần phải đổi mới nhận thức về kế hoạch hoá, cải tiến nội dung, phƣơng pháp và hoàn thiện bộ máy kế hoạch hoá thƣơng mại, tăng cƣờng các phƣơng tiện kỹ thuật và nâng cao trình độ nguồn nhân lực làm công tác chiến lƣợc, quy hoạch và kế hoạch phát triển thƣơng mại, nhất là trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay.
- Chức năng tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý thương mại Nhà nƣớc thiết lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lƣợc, qui hoạch, chính sách, các văn bản pháp quy khác về quản lý thƣơng mại. Đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để triển khai thực hiện những công việc thuộc về chức năng quản lý nhà nƣớc, nhằm đƣa chính sách, pháp luật vào thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, biến chiến lƣợc, qui hoạch, kế hoạch phát triển thƣơng mại thành hiện thực. Hoạt động thƣơng mại rất đa dạng, diễn ra trên phạm vi cả nƣớc và từng địa phƣơng, từng vùng, ở cả thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, liên quan 10 z tới nhiều bộ, ngành. Do vậy, nhà nƣớc phải có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý về thƣơng mại các cấp Trung ƣơng và tỉnh (Thành phố), giữa các ngành thƣơng mại, dịch vụ với các ngành sản xuất trong nền kinh tế, giữa chính phủ, quốc hội, tòa án.
và cơ quan khác. Trong thƣơng mại quốc tế, chức năng này đƣợc thể hiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ thƣơng mại song phƣơng hoặc trong quan hệ thƣơng mại của từng khối kinh tế nhằm đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết đã ký kết. Để thực hiện hiện chức năng này, nhà nƣớc phải tạo lập cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thƣơng mại thích hợp, phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các cơ quan, bộ ngành ở trung ƣơng cũng nhƣ các sở, ngành ở địa phƣơng, quy định phân cấp quản lý và sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức đó. Chức năng này còn bao gồm việc bồi dƣỡng, đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại đặt ra.Trong từng thời kỳ và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đó trong từng thời kỳ phát triển.
- Chức năng lãnh đạo, điều khiển các hoạt động thương mại Nhà nƣớc là ngƣời đại diện quyền lợi hợp pháp của mọi chủ thể tham gia thị trƣờng, đảm bảo thực thi quyền kinh doanh của các doanh nghiệp bằng luật pháp, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền. Một mặt, nhà nƣớc hƣớng dẫn, kích thích các doanh nghiệp hoạt động theo định hƣớng đã vạch ra. Mặt khác, nhà nƣớc phải điều tiết thị trƣờng can thiệp khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sức mạnh nền tài chính quốc gia, giữ vững sức mua của tiền tệ, bảo đảm lợi ích của ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng. Khi thực hiện chức năng này, nhà nƣớc là ngƣời ra các quyết định (ban hành các văn bản chính sách và pháp luật) để lãnh đạo, điều khiển các các chủ thể tham gia thị trƣờng và cùng các hoạt động thƣơng mại của họ.
Nhà nƣớc có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau để điều 11 z tiết thị trƣờng và quan hệ thƣơng mại, xử lý mâu thuẫn của các quan hệ trao đổi đó.