phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về QLNN đối với DNN&V Chƣơng 2: Thực trạng về QLNN đối với DNN&V trên địa bàn tỉnh Lào Cai Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp đổi mới QLNN đối với DNN&V trên địa bàn tỉnh Lào Cai 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan cơ sở lý luận về các doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm: DNN&V, tên tiếng Anh viết tắt là SMEs (Small and medium enterprise) những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó. Từ viết tắt SMEs được dùng phổ biến ở cộng đồng các nước châu Âu, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và được sử dụng nhiều nhất ở Mỹ.
Các nước thuộc cộng đồng châu Âu truyền thống có cách định nghĩa riêng về SMEs của riêng họ, ví dụ ở Đức được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bỉ là 100 người. Tuy nhiên, đến nay Liên minh Châu Âu đã có khái niệm về SMEs chuẩn hóa hơn. Theo đó, những doanh nghiệp có dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, còn các doanh nghiệp có trên 250 lao động là doanh nghiệp vừa. Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có dưới 100 lao động là doanh nghiệp nhỏ và dưới 500 lao động là doanh nghiệp vừa.
Như vậy, ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực có các định nghĩa về DNN&V là khác nhau, chính sự khác nhau đã khiến cho việc nghiên cứu về các DNN&V trở nên khó khăn hơn. Ở Việt Nam, tùy theo từng giai đoạn cụ thể khái niệm DNN&V được đưa ra để phù hợp với mục đích của việc xác định và mức độ phát triển doanh nghiệp. Đến nay, khái niệm DNN&V về cơ bản được hiểu theo định nghĩa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ như sau: “D p ỏ v vừ ơ sở ã ă ý t e qu p p u t t b ấp: s u ỏ ỏ vừ t e qu tổ u v (tổ u v t ơ ơ tổ t sả tr bả ết p) ặ s ộ b qu ă (tổ u v t u í ut )”. 9 Các tiêu chí phân loại DNN&V: Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng.
Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận.
Trong đó: Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này). Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước. Tuy nhiên, sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của một nước; tính chất ngành nghề; vùng lãnh thổ; tính lịch sử; mục đích phân loại.
Như vậy, có thể xác định được quy mô DNN&V thuộc một ngành hoặc một địa bàn cụ thể theo công thức sau: F(Sba) = Ib* Ia*Sa/ Id Trong đó: F(Sba): quy mô một doanh nghiệp thuộc một ngành và trên một lãnh thổ cụ thể. Ib, Ia, Id: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp; Sa: quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước. Ở Việt Nam, theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh 10 nghiệp Việt Nam được phân thành 4 nhóm tùy thuộc vào quy mô lao động, vốn và khu vực kinh tế mà họ hoạt động, cụ thể bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam được biểu hiện trong bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Quy mô Doanh Doanh nghiệp nghiệp Doanh nghiệp vừa Doanh nhỏ siêu nhỏ nghiệp lớn Lao động Lao động Lao động Lao động Vốn Vốn (ngƣời) (ngƣời) Vốn (tỷ) (ngƣời) (ngƣời) Khu vực (tỷ) (tỷ) I.
Khu vực Trên 10 Trên 20 Trên 200 Trên nông, lâm nghiệp <=10 <=20 Trên 300 ế 200 ế 100 ế 300 100 và thủy sản II. Khu vực công Trên 10 Trên 20 Trên 200 Trên nghiệp và xây <=10 <=20 Trên 300 ế 200 ế 100 ế 300 100 dựng III. Khu vực Trên 10 Trên 10 Trên 50 Trên thương mại, <=10 <=10 Trên 100 ế 50 ế 50 ế 100 50 dịch vụ (Ngu : Đ u 3, Ngh 56/2009/NĐ-CP)[8] 1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Vai trò của DNN&V ngày càng lớn đối với nền kinh tế - xã hội (KTXH) của Việt Nam được thể hiện trên các mặt sau: 1131 V trò v ặt tế Tăng trưởng nền kinh tế: Theo thống kê, trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ có sức lan toả trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với số lượng vào khoảng 550.000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên gần 2.
Theo tiêu chí mới thì doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 98% tổng số các doanh nghiệp thuộc 11 các hình thức: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tốc độ tăng trưởng GDP của các DNN&V là tăng ổn định và đều đặn. Các DNN&V đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước và huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế. Ngoài ra, các DNN&V ngoài quốc doanh và quốc doanh còn có sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, cơ sở hạ tầng (CSHT) như trường học, thể dục thể thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa, nhà tình thương và các công trình phúc lợi khác ở tất cả các địa phương trong cả nước.
Gia tăng giá trị xuất khẩu: Với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kết hợp với thị trường mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa. Nhiều DNN&V đã mạnh dạn chuyển sang sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu, số lượng hàng hóa tham gia xuất khẩu ngày càng tăng, nhiều sản phẩm được các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc xuất ủy thác qua các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài. Thu hút vốn: Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho lao động cũng như trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp. Trong bối cảnh lạm phát, việc huy động vốn của ngân hàng chưa hấp dẫn, các cá nhân có tiền nhàn rỗi có nhu cầu thành lập các cơ sở sản xuất nhỏ là hợp lý, đây là yếu tố tích cực của việc huy động vốn trong dân cư, do vậy hàng năm đã có hàng trăm DNN&V được thành lập.
Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ: Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của DNN&V đã tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế đã cho thấy DNN&V đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa phương. Chính điều này đã giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ. DNN&V đã tận dụng triệt để các nguồn lực xã hội, có nhiều thuận lợi trong việc khai thác các tiềm năng rất phong phú trong dân, từ trí tuệ, tay nghề tinh xảo, vốn liếng, bí quyết nghề nghiệp, nhất là của các nghệ nhân, các quan hệ huyết thống, ngành nghề truyền thống.
để phát triển sản xuất kinh doanh. 12 Các DNN&V đã tham gia góp phần vào công việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lực, một bộ phận lớn lao động trong nông nghiệp và số lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm đã được thu hút vào các DNN&V và đã dần thích ứng với nề nếp tác phong công nghiệp và một số ngành dịch vụ liên quan. Ngoài lao động ra DNN&V còn sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguồn nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, DNN&V khi thành lập cần vốn ít, thu hồi vốn nhanh, có khả năng huy động vốn nhanh, khai thác, sử dụng các tiềm năng về nguồn lao động và nguyên vật liệu tại các địa phương cũng như việc thu hút vốn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Ở các nước có nền kinh tế phát triển cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp lớn thường tập trung ở các thành phố và các trung tâm công nghiệp, gây mất cân đối về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong một quốc gia. Phát triển các DNN&V sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước hết, đó là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNN&V còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng nhanh các cơ sở ngoài quốc doanh.
Sự phát triển của các DNN&V cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.